Tổng quan luận án
Công trình nghiên cứu "Hoạt động đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (1986 – 2005)" do Bùi Văn Hùng thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lê Văn Quang, bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (năm 2007). Luận án thuộc chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 5.15).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Đối ngoại là một trong hai chức năng cơ bản của nhà nước, có mối quan hệ biện chứng và tác động trở lại mạnh mẽ đối với chức năng đối nội. Trong bối cảnh quá trình toàn cầu hóa và khu vực hóa diễn ra sâu sắc, việc mở rộng hoạt động đối ngoại trở thành tất yếu đối với tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam.
Văn bản luận án chỉ ra rằng, dù đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập đến chủ trương, chính sách hoặc từng khía cạnh đối ngoại riêng lẻ, việc nghiên cứu hoạt động đối ngoại của Việt Nam từ năm 1986 đến năm 2005 một cách hệ thống, toàn diện, luận giải khoa học các sự kiện và điều kiện lịch sử chi phối, từ đó đúc kết bài học kinh nghiệm lịch sử vẫn là một yêu cầu cần thiết. Do đó, đề tài mang ý nghĩa khoa học, chính trị, thực tiễn và thời sự.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là phục dựng và làm rõ quá trình triển khai hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam trong 20 năm đổi mới (1986 – 2005). Luận án đặt ra hệ thống 5 câu hỏi nghiên cứu cốt lõi:
- Hoạt động đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới đã diễn ra như thế nào?
- Các kết quả cụ thể cũng như những tồn tại của hoạt động này ra sao?
- Hoạt động đối ngoại trong thời kỳ đổi mới có những đặc điểm gì khác với các thời kỳ trước đó?
- Đâu là cơ sở cùng những nhân tố khách quan và chủ quan đã tác động, ảnh hưởng, chi phối hoạt động đối ngoại của Việt Nam thời kỳ này?
- Triển vọng đối ngoại của Việt Nam trong những giai đoạn tiếp theo đầu thế kỷ XXI ra sao, và có thể rút ra được những bài học lịch sử có tính tham khảo gì cho sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa từ sự nghiên cứu hoạt động đối ngoại giai đoạn 1986 – 2005?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ hoạt động đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (1986 – 2005), bao gồm hoạt động ngoại giao chính thức của Đảng, Nhà nước và ngoại giao nhân dân.
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1986 (mốc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng) đến năm 2005 (khép lại 20 năm đầu của công cuộc đổi mới). Mốc năm 1995 được xác định là ranh giới phân chia hai giai đoạn phát triển: 1986 – 1995 và 1995 – 2005.
- Phạm vi không gian và nội dung: Luận án tập trung phân tích sâu hai lĩnh vực trọng tâm là chính trị đối ngoại và kinh tế đối ngoại; các lĩnh vực khác như văn hóa đối ngoại, quân sự, giáo dục, khoa học – kỹ thuật và ngoại giao nhân dân được đề cập ở mức độ các sự kiện tiêu biểu, nổi bật.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã khảo cứu và phân loại một khối lượng lớn các công trình nghiên cứu liên quan đến lịch sử ngoại giao Việt Nam, được chia thành các nhóm tư liệu và nghiên cứu chính:
| Nhóm công trình |
Các tác giả, ấn phẩm và cơ quan nghiên cứu tiêu biểu |
| Tổng kết lịch sử ngoại giao Việt Nam |
- Lưu Văn Lợi (1995, 1996), Năm mươi năm ngoại giao Việt Nam (2 tập, NXB Công an nhân dân). - Nguyễn Phúc Luận chủ biên (2001), Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp giành độc lập, tự do (1945 - 1975) (NXB Chính trị quốc gia). - Vũ Dương Huân chủ biên (2002), Ngoại giao Việt Nam hiện đại vì sự nghiệp đổi mới (1975 - 2002) (Học viện Quan hệ Quốc tế). - Nguyễn Đình Bin chủ biên (2002), Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000 (NXB Chính trị quốc gia). |
| Công trình chuyên khảo của lãnh đạo và cơ quan ngoại giao |
- Nguyễn Mạnh Cầm, Vũ Khoan, Nguyễn Dy Niên, Trần Quang Cơ, Lê Mai, Nguyễn Đình Bin trong Hội nhập quốc tế và giữ vững bản sắc, Việt Nam 20 năm đổi mới (NXB Chính trị quốc gia, 1995, 2006). - Nguyễn Dy Niên (2002), Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh (NXB Chính trị quốc gia). - Tôn Nữ Thị Ninh và Vụ Tổ chức Quốc tế - Bộ Ngoại giao (1999), Các vấn đề toàn cầu - Các tổ chức Quốc tế và Việt Nam (NXB Trẻ). - Trần Đức Mậu chủ nhiệm đề tài cấp Bộ (12/2004), Tổng kết chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế của Đảng và Nhà nước ta qua 20 năm đổi mới (Vụ Chính sách đối ngoại - Bộ Ngoại giao). |
| Quan hệ song phương và đa phương khu vực |
- Vũ Dương Ninh chủ biên (2004), Việt Nam – ASEAN quan hệ đa phương và song phương (NXB Chính trị quốc gia). - Đinh Xuân Lý (2003), Quá trình Việt Nam hội nhập khu vực châu Á – Thái Bình Dương theo đường lối của Đảng. - Lê Văn Quang (2005), Quan hệ Việt – Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh (1990 – 2000) (NXB ĐHQG TP. Hồ Chí Minh). - Tập thể tác giả (2003), Chính sách đối ngoại rộng mở của Việt Nam và quan hệ Việt Nam – Trung Quốc (NXB Khoa học xã hội). - Trung tâm Nghiên cứu Trung Quốc (2001), Quan hệ kinh tế – văn hoá Việt Nam – Trung Quốc hiện trạng và triển vọng (NXB Khoa học xã hội). - Trình Mưu, Nguyễn Thế Lực, Nguyễn Hoàng Giáp đồng chủ biên (2005), Quá trình triển khai thực hiện chính sách đối ngoại của Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam (NXB Lý luận chính trị). |
| Nghiên cứu về kinh tế đối ngoại |
- Bùi Huy Khoát chủ biên (1997), Thúc đẩy quan hệ thương mại – đầu tư giữa liên hiệp châu Âu và Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI (NXB Chính trị quốc gia). - Nguyễn Đình Hương và Vũ Đình Bách đồng chủ biên (1999), Quan hệ thương mại Việt Nam – ASEAN và Chính sách xuất – nhập khẩu của Việt Nam (NXB Chính trị quốc gia). - Vũ Thu Giang (2000), Chính sách tài chính của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế. - Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thị Như Hoa (2001), Quan hệ kinh tế của Mỹ và Nhật Bản với Việt Nam từ năm 1995 đến nay. |
| Kỷ yếu hội thảo và Luận án tiến sĩ |
- Kỷ yếu: 50 năm Ngoại giao Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam (1995); Quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, nhìn lại 10 năm và triển vọng (2002); Thương mại Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế (2004). - Luận án: Trần Thị Kim Dung (2001), Quan hệ Việt Nam – Liên minh châu Âu; Vũ Quang Vinh (2001), Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo hoạt động đối ngoại (1986 – 2000); Nguyễn Đình Thực (2001), Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về quan hệ đối ngoại với ASEAN (1967 – 1995). |
| Công trình học giả quốc tế |
- Michel T., Hợp tác tài chính trong các nước ASEAN. - Brice M. Clagett (1996), Những yêu sách đối kháng của Việt Nam và Trung Quốc ở khu vực bãi ngầm Tư Chính và Thanh Long trong biển Đông. - Randall B. Ripley và James M. Lindsay (2002), Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ sau chiến tranh lạnh. - John Wilson Lewis và Xue Litai (1997), Sức mạnh về chiến lược trên biển của Trung Quốc. - Carlyle A. Thayer và Ramses Amer biên tập (1998), Vietnamese Foreign Policy in Transition. |
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Phần lớn các công trình công bố trước đó giới hạn khung thời gian khảo sát đến trước năm 2000 hoặc 2002; các mảng dữ liệu về kinh tế đối ngoại, thương mại, đầu tư và bối cảnh toàn diện giai đoạn 1995 – 2005 chưa được bao quát liền mạch. Một số đề tài chỉ tiếp cận dưới góc độ báo cáo ngành hoặc phân tích một quan hệ song phương cụ thể. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này bằng việc hệ thống hóa toàn bộ tiến trình lịch sử đối ngoại trong trọn vẹn 20 năm (1986 – 2005), kết hợp cả hai trụ cột chính trị và kinh tế đối ngoại.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm
- Phương pháp luận Mác-xít: Sử dụng quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để nhận định, đánh giá các sự kiện lịch sử một cách khách quan. Luận án dựa trên lý luận về nhà nước của chủ nghĩa Mác – Lênin để phân tích mối quan hệ giữa chức năng đối nội và chức năng đối ngoại.
- Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh: Là nền tảng tư tưởng xuyên suốt, bao gồm hệ thống các nguyên lý, luận điểm về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, độc lập tự chủ, tự lực cánh sinh kết hợp với đoàn kết và hợp tác quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
- Khung phân tích mục tiêu đối ngoại: Đánh giá hoạt động đối ngoại dựa trên ba mục tiêu cơ bản: an ninh, phát triển và ảnh hưởng/hội nhập.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể
- Phương pháp lịch sử và phương pháp logic lịch sử: Là hai phương pháp chủ đạo nhằm tái hiện các sự kiện đối ngoại theo tiến trình thời gian thực tế, từ đó rút ra các nhận xét, khái quát quy luật và bài học kinh nghiệm.
- Phương pháp phối hợp và liên ngành: Kết hợp phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế, thông sử, lịch sử Đảng, đối chiếu so sánh, hệ thống hóa và mở rộng liên ngành.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Luận án khai thác 4 nhóm nguồn tư liệu chính:
- Nguồn văn kiện chính thống: Văn kiện Đại hội Đảng, Nghị quyết Trung ương, Nghị quyết Bộ Chính trị, các văn bản của Nhà nước và tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh; tài liệu lưu trữ tại Văn phòng Chủ tịch nước, Quốc hội, Chính phủ, Bộ Ngoại giao và Trung tâm Lưu trữ quốc gia.
- Nguồn công trình nghiên cứu trong nước: Các luận án, sách chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo và bài viết trên các tạp chí chuyên ngành (Nghiên cứu Lịch sử, Nghiên cứu Quốc tế, Nghiên cứu châu Âu, Nghiên cứu Đông Nam Á, Nghiên cứu Trung Quốc, Nghiên cứu Kinh tế).
- Nguồn ấn phẩm nước ngoài: Sách, báo, tạp chí chuyên khảo của các tác giả quốc tế (cả bản dịch tiếng Việt và nguyên bản tiếng nước ngoài).
- Nguồn báo chí đương thời và thông tin tư liệu: Các báo Nhân dân, Quân đội nhân dân, Sài Gòn Giải phóng và các bản tin Tham khảo đặc biệt (ra hàng quý và hàng ngày) của Thông tấn xã Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Khái quát về quan hệ đối ngoại của Việt Nam trước thời kỳ đổi mới (1945 – 1986)
Chương này tái hiện quá trình phát triển của ngoại giao Việt Nam từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước Đại hội VI (1986) nhằm khẳng định tính kế thừa, tính nhất quán và chỉ ra bối cảnh dẫn đến đòi hỏi đổi mới.
- Ngoại giao thời kỳ 1945 – 1975: Luận án làm rõ ba "nấc thang" ngoại giao gắn liền với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập và thống nhất:
- Hiệp định Sơ bộ (1946): Việt Nam được công nhận là một quốc gia tự do nằm trong khối Liên hiệp Pháp.
- Hiệp định Geneva (1954): Các nước công nhận nền độc lập, thống nhất, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; thực dân Pháp rút quân nhưng đất nước tạm thời bị chia cắt.
- Hiệp định Paris (1973): Mỹ phải công nhận nền độc lập, thống nhất của Việt Nam và rút toàn bộ quân đội nước ngoài về nước.
- Bối cảnh thế giới và khu vực giai đoạn 1975 – 1986: Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lần thứ hai (giai đoạn II) thúc đẩy các nước chuyển hướng hợp tác sang mục tiêu kinh tế; xuất hiện xu thế hòa hoãn giữa các nước lớn; hệ thống xã hội chủ nghĩa bước vào khủng hoảng; trật tự hai cực Yalta xói mòn. Khu vực Đông Nam Á xuất hiện sự phân cực và đối đầu căng thẳng giữa hai nhóm nước ASEAN và Đông Dương quanh "vấn đề Campuchia".
- Ngoại giao khắc phục hậu quả chiến tranh và khôi phục kinh tế (1975 – 1986): Tính đến ngày 19/8/1976, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 97 quốc gia và nhiều tổ chức quốc tế. Tuy nhiên, sau đó đất nước rơi vào tình thế khó khăn do xung đột biên giới ở Tây Nam và phía Bắc, quá trình bình thường hóa quan hệ với Mỹ bị gián đoạn, đất nước rơi vào tình trạng bị bao vây, cấm vận. Luận án khẳng định việc tìm kiếm giải pháp chính trị cho "vấn đề Campuchia" là "cái nút" then chốt để phá thế bao vây cấm vận và khai thông quan hệ quốc tế.
Chương 2: Hoạt động đối ngoại trong giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới (1986 – 1995)
Chương 2 phân tích bước chuyển đường lối đối ngoại của Đại hội VI (12/1986) và Đại hội VII (6/1991), cùng quá trình tháo gỡ cô lập và bình thường hóa quan hệ quốc tế.
- Bối cảnh quốc tế: Sự chấm dứt Chiến tranh Lạnh thông qua Tuyên bố chung Xô – Mỹ (1989), bình thường hóa quan hệ Xô – Trung (1989), Mỹ và Trung Quốc chuyển hướng thành "đối tác chiến lược xây dựng" (thời Tổng thống Bill Clinton), và sự sụp đổ của trật tự Yalta (12/1991).
- Chuyển biến đường lối đối ngoại:
- Đại hội VI (12/1986): Xác định lấy quan hệ với Liên Xô làm "hòn đá tảng", kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại nhằm thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội.
- Nghị quyết 13/NQ-TW của Bộ Chính trị khóa VI (ngày 20/5/1988): Đánh dấu bước ngoặt chiến lược với phương châm "thêm bạn bớt thù", chủ động giải quyết vấn đề Campuchia, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, mở rộng hợp tác kinh tế trong cùng tồn tại hòa bình.
- Đại hội VII (6/1991): Chính thức tuyên bố chính sách đối ngoại rộng mở: "Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển".
- Tiến trình triển khai và thành tựu (1986 – 1995):
- Giải quyết hòa bình vấn đề Campuchia thông qua các diễn đàn đối thoại (như Cuộc gặp không chính thức Jakarta - JIM).
- Tháng 11/1991: Chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Trung Quốc.
- Năm 1992: Tham gia Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác Đông Nam Á (Hiệp ước Bali).
- Năm 1993: Trở thành quan sát viên của ASEAN.
- Tháng 7/1995: Trở thành thành viên chính thức thứ 7 của ASEAN; bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ; ký Hiệp định Khung hợp tác với Liên minh châu Âu (EU), chính thức phá vỡ hoàn toàn thế bị bao vây cấm vận.
Chương 3: Hoạt động đối ngoại trong giai đoạn thứ hai của thời kỳ đổi mới (1995 – 2005)
Chương 3 tập trung vào giai đoạn đẩy mạnh ngoại giao đa phương và tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Sự phát triển đường lối qua các kỳ Đại hội:
- Đại hội VIII (6/1996) và Đại hội IX (4/2001): Nâng tầm phương châm đối ngoại: sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế.
- Nghị quyết Bộ Chính trị (tháng 11/2001): Đề ra chủ trương tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình hợp lý, thúc đẩy quan hệ thương mại, đầu tư với các nước lớn, các trung tâm kinh tế – chính trị và các tổ chức quốc tế.
- Đẩy mạnh quan hệ song phương và đa phương:
- Song phương: Thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện với Trung Quốc, bình thường hóa hoàn toàn quan hệ với Mỹ, củng cố quan hệ với Nhật Bản, các nước láng giềng Đông Nam Á, các đối tác truyền thống và các nước thuộc Liên minh châu Âu.
- Đa phương: Tham gia tích cực vào các cơ chế AFTA, ARF, AIPO trong khuôn khổ ASEAN; tham gia Diễn đàn hợp tác Á – Âu (ASEM), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ (OIF) và hệ thống Liên Hợp Quốc (UNDP, UNESCO, UNICEF, UNHCR, UNFPA, FAO...).
- Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế:
- Mở rộng thị trường xuất nhập khẩu đến hàng trăm quốc gia và vùng lãnh thổ.
- Thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và nguồn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) từ các định chế tài chính quốc tế (WB, IMF, ADB) và các quốc gia tài trợ.
- Thực hiện các cam kết cắt giảm thuế quan theo CEPT/AFTA, chuẩn bị gia nhập WTO.
Chương 4: Một số nhận định về hoạt động đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (1986 – 2005)
Chương này đúc kết toàn diện các đánh giá lịch sử, chỉ ra đặc điểm, nhân tố chi phối và các bài học kinh nghiệm.
- Thành tựu và hạn chế:
- Thành tựu: Đạt được cả ba mục tiêu cơ bản (an ninh, phát triển và nâng cao vị thế); giải quyết vấn đề Campuchia; hóa giải nguy cơ xung đột với các nước lớn; phân định và quản lý biên giới đất liền, trên biển với các nước láng giềng; phá thế bao vây và hội nhập quốc tế.
- Hạn chế: Công tác dự báo tình hình thế giới và khả năng tập hợp lực lượng giai đoạn 1986 – 1991 còn bất cập; cơ sở pháp lý và nguồn nhân lực phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 1995 – 2005 chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu mới.
- Đặc điểm chủ yếu của đối ngoại thời kỳ 1986 – 2005:
- Diễn ra trong bối cảnh đất nước có bước chuyển tiếp phát triển và tình hình thế giới biến động sâu sắc so với giai đoạn trước đổi mới.
- Kế thừa sâu sắc truyền thống ngoại giao của dân tộc và tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội với phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế.
- Các nhân tố tác động:
- Nhân tố bên trong: Khủng hoảng kinh tế – xã hội kéo dài thúc đẩy yêu cầu đổi mới; thành tựu sau 10 năm đổi mới (1986 – 1995) tạo thế và lực mới cho đối ngoại giai đoạn 1995 – 2005.
- Nhân tố bên ngoài: Chiến tranh Lạnh kết thúc; trật tự Yalta sụp đổ; hệ thống XHCN ở Liên Xô và Đông Âu tan rã; phong trào cách mạng thế giới thoái trào tạm thời; sự phát triển của cách mạng khoa học – công nghệ thúc đẩy xu thế toàn cầu hóa và phân công lao động quốc tế.
- Sáu bài học kinh nghiệm lịch sử:
- Trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải giương cao ngọn cờ độc lập tự chủ, dựa vào sức mình là chính và đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu.
- Chính sách đối ngoại là sự tiếp tục của chính sách đối nội, do đối nội quyết định; luôn coi trọng củng cố và phát huy nội lực làm nền tảng sức mạnh đối ngoại.
- Luôn linh hoạt, nhạy bén, đầu tư nghiên cứu và dự báo tình hình quốc tế khách quan, chính xác để không rơi vào thế bị động, lúng túng.
- Đổi mới đối ngoại là sự nghiệp to lớn, phức tạp, đòi hỏi tiến hành từng bước thận trọng nhưng phải sáng tạo, quyết đoán, kiên quyết từ bỏ những nhận thức lỗi thời.
- Sắp xếp thứ tự ưu tiên hợp lý trong quan hệ với các đối tác, nhất là các nước láng giềng và các nước lớn.
- Xây dựng cơ chế thúc đẩy và phát huy sức mạnh của ngoại giao nhân dân, tạo thành sức mạnh tổng hợp trên mặt trận đối ngoại.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt khoa học và lý luận
- Hệ thống hóa toàn diện các nguồn tư liệu và các sự kiện lịch sử về hoạt động đối ngoại của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam giai đoạn 1986 – 2005.
- Luận giải khoa học các điều kiện lịch sử khách quan và chủ quan chi phối đường lối đối ngoại thời kỳ đổi mới.
- Làm rõ vị trí, vai trò của hoạt động đối ngoại như một động lực góp phần đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội và phá vỡ thế bao vây cấm vận.
- Khái quát 3 đặc điểm bản chất và 6 bài học kinh nghiệm có giá trị thực tiễn đối với công tác đối ngoại đương đại.
Các kiến nghị và giải pháp tác giả đề xuất
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lịch sử 1986 – 2005, tác giả đưa ra các kiến nghị định hướng cho giai đoạn tiếp theo:
- Quán triệt và vận dụng sáng tạo tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh: kiên định về nguyên tắc nhưng linh hoạt trong ứng xử, giương cao ngọn cờ độc lập tự chủ.
- Kết hợp chặt chẽ hoạt động chính trị đối ngoại với kinh tế đối ngoại (ngoại thương, đầu tư, viện trợ phát triển ODA, thị trường lao động, chuyển giao khoa học – công nghệ).
- Nâng cao năng lực dự báo chính xác chiều hướng biến chuyển của tình hình quốc tế và khu vực phục vụ hoạch định chính sách.
- Đổi mới tư duy đối ngoại vừa thận trọng, vừa quyết đoán, sáng tạo; kết hợp hội nhập quốc tế với bảo vệ lợi ích quốc gia và bản sắc văn hóa dân tộc.
- Tiếp tục xác định thứ tự ưu tiên đối tác hợp lý, đặc biệt là các nước láng giềng và các nước lớn.
- Phát huy hiệu quả mạng lưới ngoại giao nhân dân nhằm đa dạng hóa các kênh tiếp cận quốc tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Giới hạn phạm vi nội dung: Do khuôn khổ luận án tiến sĩ sử học, công trình tập trung chủ yếu vào hai trụ cột là chính trị đối ngoại và kinh tế đối ngoại. Các lĩnh vực văn hóa đối ngoại, quân sự, giáo dục, khoa học – công nghệ và ngoại giao nhân dân chỉ được điểm qua ở những mốc tiêu biểu, cần có thêm các nghiên cứu chuyên khảo độc lập để phân tích chuyên sâu.
- Hạn chế lịch sử được chỉ ra: Luận án ghi nhận công tác dự báo tình hình và tập hợp lực lượng giai đoạn 1986 – 1991 còn bộc lộ điểm bất cập; đồng thời, việc chuẩn bị cơ sở pháp lý và đào tạo nhân lực cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn 1995 – 2005 vẫn là quá trình khởi đầu, cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện trong các giai đoạn hội nhập sâu rộng hơn.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng:
- Nghiên cứu sinh, học viên, sinh viên và giảng viên ngành Lịch sử Việt Nam, Lịch sử Quan hệ Quốc tế, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và Ngoại giao học.
- Cán bộ hoạch định và thực thi chính sách đối ngoại tại các cơ quan ngoại giao, thương mại và hợp tác quốc tế.
- Nội dung tham khảo giá trị:
- Bảng tổng hợp và hệ thống văn kiện đối ngoại qua các kỳ Đại hội Đảng (VI, VII, VIII, IX) và Nghị quyết 13/NQ-TW của Bộ Chính trị.
- Phân tích các bước chuyển chiến lược giải quyết vấn đề Campuchia, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, Hoa Kỳ và gia nhập ASEAN.
- Hệ thống 6 bài học kinh nghiệm về xử lý mối quan hệ giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Vì sao tác giả lựa chọn năm 1995 làm mốc phân chia hai giai đoạn nghiên cứu của thời kỳ đổi mới?
Năm 1995 đánh dấu bước ngoặt lịch sử khi Việt Nam chính thức phá vỡ hoàn toàn thế bao vây cấm vận thông qua ba sự kiện đối ngoại lớn: gia nhập ASEAN (tháng 7/1995), bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ và ký Hiệp định Khung hợp tác với EU. Đồng thời, đây cũng là mốc thời gian đánh dấu đất nước cơ bản vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội kéo dài, chuyển sang giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Ba "nấc thang" ngoại giao vì sự nghiệp độc lập và thống nhất (1945 – 1975) được luận án nêu ra là gì?
Luận án chỉ rõ 3 nấc thang tương ứng với 3 văn kiện ngoại giao quan trọng:
- Hiệp định Sơ bộ (1946): Việt Nam được công nhận là quốc gia tự do trong khối Liên hiệp Pháp.
- Hiệp định Geneva (1954): Quốc tế công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, buộc quân đội Pháp rút lui.
- Hiệp định Paris (1973): Đế quốc Mỹ phải công nhận độc lập, thống nhất của Việt Nam và rút toàn bộ quân đội nước ngoài về nước.
3. Nghị quyết 13/NQ-TW của Bộ Chính trị (tháng 5/1988) có ý nghĩa như thế nào đối với bước chuyển chính sách đối ngoại?
Nghị quyết 13/NQ-TW (ngày 20/5/1988) đề ra phương châm "thêm bạn bớt thù", tạo bước ngoặt chuyển hướng chiến lược đối ngoại từ đối đầu sang đối thoại và cùng tồn tại hòa bình. Nghị quyết xác định chủ trương chủ động giải quyết hòa bình "vấn đề Campuchia", thúc đẩy bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, đổi mới quan hệ hợp tác với Liên Xô và các nước XHCN, mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế vì lợi ích phát triển của đất nước.
4. Luận án đúc kết những bài học kinh nghiệm lịch sử nào từ 20 năm đổi mới đối ngoại?
Tác giả đúc kết 6 bài học kinh nghiệm:
- Giương cao ngọn cờ độc lập tự chủ, dựa vào sức mình là chính và đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu.
- Lấy củng cố nội lực làm nền tảng cho sức mạnh đối ngoại (đối nội quyết định đối ngoại).
- Chủ động, nhạy bén trong nghiên cứu và dự báo tình hình quốc tế.
- Tiến hành đổi mới từng bước vững chắc, thận trọng kết hợp với đổi mới sáng tạo, quyết đoán.
- Sắp xếp thứ tự ưu tiên hợp lý đối với các đối tác (ưu tiên láng giềng và các nước lớn).
- Kết hợp sức mạnh ngoại giao nhà nước với ngoại giao nhân dân.
5. Ba mục tiêu cốt lõi xuyên suốt trong chính sách đối ngoại thời kỳ đổi mới là gì?
Ba mục tiêu cốt lõi được luận án chỉ ra và phân tích xuyên suốt các chương là: An ninh (bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ XHCN), Phát triển (mở rộng hợp tác kinh tế, thương mại, thu hút đầu tư phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa) và Ảnh hưởng/Hội nhập (nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam trên các diễn đàn đa phương và khu vực).
Kết luận
Luận án tiến sĩ lịch sử của tác giả Bùi Văn Hùng đã phục dựng một cách có hệ thống và khoa học tiến trình 20 năm hoạt động đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới (1986 – 2005). Thông qua việc phân tích quá trình chuyển biến đường lối từ Đại hội VI đến Đại hội IX và làm rõ hai trụ cột chính trị – kinh tế đối ngoại, công trình đã khẳng định vai trò của đối ngoại trong việc đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng, phá thế bao vây cấm vận và hội nhập quốc tế. Các nhận định về đặc điểm lịch sử, nhân tố chi phối cùng 6 bài học kinh nghiệm và các kiến nghị trong luận án cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị cho công tác nghiên cứu, giảng dạy lịch sử ngoại giao Việt Nam và tham khảo chính sách thực tiễn.