Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Chương 2: Thực tiễn hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai. Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường hoạt động giám sát, phản biện xã hội của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thị xã An Khê, tỉnh Gia Lai. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT, PHẢN BIỆN XÃ HỘI CỦA ỦY BAN MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM 1. Các khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm giám sát, phản biện xã hội Cho đến nay, có nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau về thuật ngữ giám sát. Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi tìm hiểu ở những nghĩa sau: Theo Từ điển tiếng Việt: “Giám sát là theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không” [36; tr. Theo Từ điển Wikipedia: “Giám sát là giám sát hành vi, hoạt động hoặc thông tin nhằm mục đích gây ảnh hưởng, quản lý hoặc chỉ đạo” [11]. Trong tiếng Anh thì Giám sát - supervision: là sự trông nom, sự giám sát, xem xét của chủ thể bên ngoài (một hệ thống) đối với khách thể thuộc hệ thống khác.
Ngoài ra, trên nhiều phương diện khác nhau, chúng tôi nhận thấy, thuật ngữ giám sát được sử dụng khá phổ biến trong văn bản chính trị, pháp luật của Việt Nam. Đơn cử như: Theo Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [23; tr. Trong Luật MTTQVN năm 2015 ghi rõ: “Nhân dân giám sát hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để bảo đảm Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm theo quy định của pháp luật” [12]. 9 Đối với Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND năm 2015: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; tham gia giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp” [25; tr.
Trong Quy chế GS và PBXH của MTTQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội (Ban hành kèm theo Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị) thì: “Giám sát” là việc theo dõi, phát hiện, xem xét; đánh giá kiến nghị nhằm tác động đối với cơ quan, tổ chức và cán bộ, đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhà nước về việc thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước” [13]. Từ việc tìm hiểu trên, chúng tôi có thể đưa ra khái niệm về giám sát như sau: Giám sát là hoạt động theo dõi, xem xét, kiểm tra và nhận định về một việc làm nào đấy, xem việc làm đó đã được thực hiện đúng hoặc sai theo những điều đã quy định. Mặt khác, về thuật ngữ phản biện và PBXH theo chúng tôi tìm hiểu đã được công trình của các tác giả, các nhà nghiên cứu tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Theo từ điển tiếng Việt, phản biện được giải thích là: “Đánh giá chất lượng một công trình khoa học khi công trình được đưa ra bảo vệ để lấy học vị của hội đồng chấm thi” [36; tr.
Như vậy, hàm nghĩa của từ điển tiếng Việt thì phản biện được hiểu theo nghĩa hẹp, xoay quanh một lĩnh vực nhất định. Ở đây chỉ coi hoạt động phản biện là hoạt động đặc thù chỉ có trong quá trình bảo vệ luận án, luận văn hoặc đề tài, đề án khoa học, trong khi có rất nhiều hoạt động, lĩnh vực khác cũng rất cần được phản biện. Khi nói tới sự phản biện có nghĩa là chúng ta đang đề cập đến khả năng suy nghĩ rõ ràng và lập luận đúng đắn. 10 Trong cuốn sách của Ban Tuyên giáo Trung ương Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã giải thích rằng: Phản biện là nhận xét, đánh giá, bình luận, thẩm định công trình khoa học, dự án, đề án trong các lĩnh vực khác nhau.
Phản biện khác với tranh cãi. Bởi lẽ trong phản biện, chúng ta sẽ dùng lý lẽ, lập luận để bảo vệ niềm tin, ý kiến hay quan điểm nào đó. Để có thể phản biện một cách khoa học, hợp lý, chúng ta phải vận dụng nhiều kỹ năng khác nhau. Suy nghĩ độc lập và suy nghĩ phản chiếu là những kỹ năng quan trọng và phổ biến hơn cả.
Còn trong đời sống xã hội, phản biện góp phần điều chỉnh các khuynh hướng kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội làm cho các khuynh hướng đó trở nên khoa học hơn, đúng đắn hơn và gần với đời sống con người hơn, tránh sự chủ quan duy ý chí của người cầm quyền. Từ những cách hiểu như trên, chúng tôi có thể nêu lên khái niệm: Phản biện là sự nhận xét, đánh giá hay thẩm định một vấn đề nào đó, phát hiện và loại bỏ những yếu tố sai lầm, hướng tới sự đúng đắn và hợp lý đáp ứng những yêu cầu và mục tiêu nhất định. Còn PBXH, theo các nhà khoa học, là những ý kiến nhận xét, đánh giá, bình luận của xã hội, nhân dân và các nhà khoa học về các chương trình, chính sách, dự án, đề án, quy hoạch. của Đảng, Nhà nước và các tổ chức liên quan.
Theo đó PBXH thường nhằm vào những điểm yếu, hạn chế, sai sót để đưa ra các lập luận, chứng cứ, đánh giá, bổ sung, phản bác một phần hoặc toàn bộ dự thảo phương án, chương trình, chính sách nhất định. Quan niệm này nhấn mạnh những khía cạnh bản chất của PBXH, loại phản biện mang tính xã hội nhằm phân biệt với phản biện Nhà nước, nằm “ngoài” Nhà nước. Nhìn trên tổng thể, có thể chia PBXH thành hai loại hình hay cấp độ cơ bản như sau: Cấp độ thứ nhất, theo nghĩa rộng, PBXH hướng đến các cấu trúc, chế 11 định hay thể chế, trạng thái hiện tồn của xã hội. Ở cấp độ này, mục đích của PBXH là nhằm “sửa sang” thể chế, kiến tạo thể chế mới, thiết lập mô hình tổ chức xã hội mới đáp ứng nhu cầu phát triển.
Thể chế là vấn đề được coi như chìa khóa của sự phát triển xã hội đương đại. Cấp độ thứ hai, theo nghĩa hẹp hơn, PBXH là sự phản biện từ phía nhân dân, các cộng đồng, các cá nhân và tổ chức xã hội đối với thể chế chính trị, thể chế nhà nước, các cơ cấu quyền lực mà trung tâm là Nhà nước, thực thi quyền lực nhà nước, thực thi công vụ. Loại PBXH này chủ yếu với mục đích nhằm vào chính sách công được ban hành bởi các tổ chức trong hệ thống chính trị với mục đích đồng thuận hay phản đối, hướng tới đồng thuận, hoàn thiện và tối ưu hóa nó trong thực tiễn. Trong Quy chế GS và PBXH của MTTQVN và các đoàn thể chính trị - xã hội (Ban hành kèm theo Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị) thì: “Phản biện xã hội” là việc nhận xét, đánh giá, nêu chính kiến, kiến nghị đối với dự thảo các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước” [13].
Như vậy, PBXH là hoạt động rộng rãi mang tính nhân dân và tổ chức, là việc một tổ chức đưa ra những chứng lý, lý lẽ, căn cứ khoa học để làm rõ bản chất của một vấn đề, một sự kiện nào đó, là cơ sở để đưa ra một chủ trương, chính sách, quyết định hợp lý, hợp pháp. Từ các quan niệm trên, chúng tôi có thể nêu lên định nghĩa như sau: Phản biện xã hội là hoạt động mang tính xã hội, phản ánh sự nhìn nhận, đánh giá của các lực lượng xã hội đối với quá trình hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhằm làm cho đường lối, chính sách ấy phù hợp và đáp ứng các yêu cầu phát triển của xã hội. Như vậy, chủ thể PBXH là các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, các hội nghề nghiệp, các cộng đồng, các tầng lớp cư dân và các cá nhân… Đó là quá trình phản biện mang tính chất xã hội, thu hút đông đảo 12 công dân và tổ chức tham gia. Đối tượng của PBXH là chính sách công do các chủ thể ban hành về chủ trương, chính sách, đề án, dự án, chương trình (gọi chung là chính sách công) có tác động xã hội lớn, liên quan đến quyền và lợi ích của cộng đồng nói chung hoặc nhóm xã hội lớn.
Trong kinh tế thị trường, nếu chính sách công không được PBXH làm việc triệt để, lợi ích nhóm dễ thao túng và lũng đoạn. Mục đích của PBXH là nhằm đảm bảo cân bằng lợi ích, đảm bảo lợi ích công, thực thi dân chủ, phát huy trí tuệ và cảm xúc của cộng đồng xã hội, của các tầng lớp nhân dân, các nhóm xã hội lớn và công dân nói chung… nhằm làm cho các chính sách công phản ánh đúng quy luật khách quan, đáp ứng lợi ích của các nhóm đối tượng chịu sự tác động của chính sách công, góp phần đảm bảo hài hòa lợi ích công và phát triển bền vững. Ngạn ngữ Việt Nam có câu: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu/Khó vạn lần dân liệu cũng xong” là vậy. Thêm nữa, PBXH đòi hỏi đảm bảo tính khoa học - thực tiễn, tức là sự phản biện xuất phát trên cơ sở những luận điểm, luận cứ và luận chứng rõ ràng để soi chiếu vào vấn đề chính sách công và thực tiễn đang đặt ra trong mối quan hệ với lợi ích công.
Cuối cùng, PBXH cần đảm bảo cơ sở chính trị - pháp lý. Quá trình phát triển nói chung cũng như các chính sách công của Việt Nam đều dựa trên cơ sở các quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước. Do vậy PBXH cần và nên xuất phát từ đây.