CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Khái niệm kỹ năng Theo Từ điển tiếng Việt (2010), kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức đã thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn; là khả năng áp dụng những kiến thức được học, sự hiểu biết về xã hội và năng lực của một cá nhân để có thể giải quyết được một hoặc nhiều vấn đề với các mục đích khác nhau nhằm tạo ra kết quả như mong muốn. Khái niệm nghiên cứu khoa học Theo Luật Khoa học và Công nghệ năm (2013), NCKH là các hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn.
[13] Babbie (2011) cho rằng: NCKH là việc mà con người tìm hiểu về khoa học một cách có hệ thống và quá trình áp dụng được các ý tưởng, nguyên lý để tìm ra những kiến thức mới nhằm giải thích về các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống. [3,TLTKNN] Theo Armstrong và Sperry (1994), việc dựa vào ứng dụng các phương pháp khoa học để phát hiện ra những cái mới về bản chất của sự vật, hiện tượng, về thế giới tự nhiện và xã hội, để sáng tạo ra các phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, có giá trị hơn chính là đang thực hiện nghiên cứu khoa học. Hình thức nghiên cứu này nhằm cung cấp thông tin và lý thuyết khoa học để giải thích về bản chất và tính chất của thế giới. Nó là hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra, kiểm tra hoặc thử nghiệm.
Dựa trên những số liệu khảo sát thực tế, thu thập tài liệu, tích lũy kiến thức,… đạt được từ các thí nghiệm nghiên cứu để phát hiện những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật tốt hơn. Nghiên cứu khoa học là phải nắm hết các kiến thức nhất định, liên quan về lĩnh vực mình nghiên cứu và cái chính là rèn luyện được cách làm việc tự lực, có phương pháp ngay từ lúc ngồi trên ghế nhà trường.13-43] Trong phạm vi đề tài này nhóm tác giả sử dụng khái niệm NCKH của luật Khoa học và Công nghệ (2013), theo đó nghiên cứu khoa học là xem xét, tìm hiểu kỹ lưỡng để nắm vững vấn đề, giải quyết vấn đề để rút ra những hiểu biết mới; là sự phát hiện bản chất của sự vật, hiện tượng, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; là sáng tạo phương 5 pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới nhằm làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu, hoạt động sống của con người. Nghiên cứu khoa học là cả một quá trình hình thành và chứng minh luận điểm khoa học về một sự vật hoặc hiện tượng cần được giải mã, chưa được khám phá. Kỹ năng nghiên cứu khoa học của sinh viên Theo Lê Thị Vân Anh (2017), NCKH có vai trò quan trọng trong phát triển năng lực tự học, tự nghiên cứu của sinh viên.
Thông qua quá trình phát hiện, tìm hiểu những vấn đề mới có liên quan đến chuyên ngành đào tạo, sinh viên có thể để nâng cao kiến thức lý luận, phát triển năng lực nghề nghiệp cũng như bồi dưỡng niềm đam mê nghiên cứu khoa học.129-135] Kỹ năng nghiên cứu là bước đệm giúp SV phát triển các kỹ năng quan trọng như tìm kiếm thông tin, phân tích dữ liệu, viết báo cáo và trình bày kết quả; giúp cũng cố khả năng tự học hỏi của sinh viên, nâng cao kiến thức bản thân, sinh viên có cơ hội áp dụng và mở rộng kiến thức chuyên môn được học trong lớp học vào thực tiễn thông qua việc tham gia vào các dự án nghiên cứu. Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức đã thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn; là khả năng áp dụng những kiến thức được học. NCKH là quá trình hình thành và chứng minh luận điểm khoa học về một sự vật hoặc hiện tượng cần được giải mã, chưa được khám phá. Để hoàn thiện một công trình nghiên cứu, cần nắm vững các kỹ năng để áp dụng đúng trường hợp, đúng cách và có hiệu quả tốt nhất và khái niệm kỹ năng NCKH cũng được kết hợp từ 2 khái niệm kỹ năng và khái niệm NCKH mà có.
Nhóm tác giả đưa ra khái niệm về kỹ năng nghiên cứu khoa học như sau: kỹ năng NCKH của SV là sự vận dụng tri thức để thực hiện NCKH của học sinh, sinh viên trong hoạt động học tập và nghiên cứu để giải quyết các vấn đề thực tiễn. Các lý thuyết nghiên cứu có liên quan 1. Lý thuyết về hành vi có hoạch định của Ajzen (1991) Tác giả cho rằng ý định thực hiện hành vi sẽ chịu ảnh hưởng bởi ba nhân tố như thái độ đối với hành vi, tiêu chuẩn chủ quan và nhận thức về kiểm soát hành vi. Theo đó, ba yếu tố quyết định cơ bản trong lí thuyết hành vi hoạch định bao gồm: Yếu tố cá nhân là thái độ cá nhân đối với hành vi về việc tích cực hay tiêu cực của việc thực hiện hành vi; Về ý định nhận thức áp lực xã hội của người đó, vì nó đối phó với nhận thức của 6 áp lực hay sự bắt buộc có tính qui tắc nên được gọi là chuẩn chủ quan; Sự tự nhận thức (self-efficacy) hoặc khả năng thực hiện hành vi, được gọi là kiểm soát nhận thức hành vi (Ajzen, 2005).
[2,TLTKNN] Lý thuyết cho thấy tầm quan trọng của thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan và kiểm soát nhận thức hành vi dẫn đến sự hình thành của một ý định hành vi. Lý thuyết về tính tự quyết Đây là thuyết về động cơ của con người được xây dựng và phát triển bởi các nhà tâm lý học người Mỹ E.Ryan vào giữa những năm 80 của thế kỷ trước. Lý thuyết này cho rằng có 3 loại động cơ: động cơ bên ngoài, động cơ bên trong và không có động cơ. Trong đó, chỉ có động cơ bên ngoài và động cơ bên trong là những loại động cơ mang tính tự quyết.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng động cơ mang tính tự quyết có tác động tích cực đến kết quả học tập của học sinh, sinh viên, trong đó, những học sinh có động cơ học tập mang tính tự quyết thường áp dụng các phương pháp học tập có hiệu quả, có thái độ, tình cảm tích cực đối với học đường và kết quả học tập tốt. Nội dung kỹ năng nghiên cứu khoa học của sinh viên 1. Kỹ năng xác định vấn đề nghiên cứu Kỹ năng xác định vấn đề nghiên cứu là cần thiết cho những nỗ lực nghiên cứu hiệu quả. Những kỹ năng này bao gồm nhận biết các lĩnh vực quan tâm, đặt ra các câu hỏi có ý nghĩa và xác định phạm vi nghiên cứu.
Khả năng quan sát nhạy bén và xác định vấn đề là rất cần thiết trong các lĩnh vực như điều dưỡng, nơi giáo dục dựa trên nghệ thuật đã được sử dụng để cải thiện những kỹ năng này. Các nhà giáo dục nhấn mạnh sự cần thiết phải dạy sinh viên cách xác định các vấn đề nghiên cứu, hướng dẫn họ thực hiện quy trình bằng cách sử dụng các phép loại suy quen thuộc để nâng cao hiểu biết và tạo điều kiện thuận lợi cho nghiên cứu có ý nghĩa. Nhìn chung, xác định vấn đề nghiên cứu là một bước cơ bản định hướng hướng nghiên cứu, đảm bảo rằng các cuộc điều tra có liên quan, có ý nghĩa và góp phần phát triển kiến thức. Kỹ năng xây dựng đề cương nghiên cứu Đề cương nghiên cứu là kế hoạch chi tiết, khung sườn của đề tài nghiên cứu, phần này sẽ tóm gọn các nội dung quan trọng được triển khai trong đề tài, như (tên đề tài nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu,.
), thường được viết ra (không chỉ nói, bàn luận,.) Vậy nên trước khi bắt tay vào nghiên cứu người nghiên cứu phải có kỹ năng xây dựng được đề cương nghiên cứu chi tiết, hoàn chỉnh. SV cần phải nắm vững cấu trúc của một đề 7 cương nghiên cứu khoa học; có khả năng vận dụng các kỹ năng khác; có khả năng phân biệt đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, khách thể nghiên cứu; đảm bảo các yếu tố logic, khoa học trong xây dựng đề cương… 1. Phương pháp nghiên cứu định tính Nghiên cứu định tính (Qualitative research) là phương pháp thu thập các thông tin và dữ liệu dưới dạng ‘phi số’ để có được các thông tin chi tiết về đối tượng nghiên cứu, khảo sát hoặc điều tra (dưới đây gọi chung là ‘đối tượng nghiên cứu’) nhằm phục vụ mục đích phân tích hoặc đánh giá chuyên sâu. Các thông tin này thường được thu thập thông qua phỏng vấn, quan sát trực tiếp hay thảo luận nhóm tập trung sử dụng câu hỏi mở, và thường được áp dụng trong trường hợp mẫu nghiên cứu nhỏ, có tính tập trung.
Phương pháp nghiên cứu định lượng Nghiên cứu định lượng (Quantitative research) là phương pháp thu thập các thông tin và dữ liệu dưới dạng số học, số liệu có tính chất thống kê để có được những thông tin cơ bản, tổng quát về đối tượng nghiên cứu nhằm phục vụ mục đích thống kê, phân tích; hay nói cách khác là lượng hoá việc thu thập và phân tích dữ liệu. Các thông tin, dữ liệu thường được thu thập thông qua khảo sát sử dụng bảng hỏi trên diện rộng và thường được áp dụng trong trường hợp mẫu nghiên cứu lớn. Dạng thang đo Định danh (Nominal): Là loại thang đo dùng cho các đặc điểm thuộc tính, dùng để phân loại đối tượng. Khi thống kê, nghiên cứu thường sử dụng các mã số để qui ước, giữa các con số này không có quan hệ hơn kém và không ý nghĩa toán học, không có ý nghĩa về lượng.
Trong thang đo này các con số chỉ dùng để phân loại các đối tượng, chúng không mang ý nghĩa nào khác (Thọ, 2011). Mục đích của nghiên cứu sử dụng thang đo này nhằm mô tả đặc điểm mẫu (giới tính, chức vụ, nghề nghiệp.) Dạng thang đo Thứ bậc (Ordinal): Là loại thang đo dùng cho các đặc điểm thuộc tính, các giá trị được sắp xếp theo trật tự tăng hoặc giảm dần và có mối quan hệ thứ bậc hơn kém, không có ý nghĩa về lượng (Thọ, 2011). Mục đích của nghiên cứu sử dụng thang đo này nhằm sắp xếp đặc điểm của mẫu (thâm niên, số lần sử dụng sản phẩm, thu 8 nhập của DN.