CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NSNN CẤP HUYỆN (QUẬN) 1. NSNN VÀ NSNN CẤP HUYỆN ( QUẬN) 1. Tổng quan về NSNN 1. Khái niệm NSNN Có nhiều quan điểm và định nghĩa khác nhau về NSNN ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi thời kỳ, ngoài ra khái niệm về NSNN còn phụ thuộc vào quan điểm, mục đích nghiên cứu, nhưng xét về hình thức biểu hiện bên ngoài thì NSNN là một bảng dự toán thu, chi bằng tiền của Nhà nước trong một khoản thời gian nhất định, thường là một năm hoặc một số năm.
Xét về nội dung vật chất, NSNN bao gồm những nguồn thu, nhiệm vụ chi cụ thể, được định lượng. Dương Đăng Chinh, thì “Ngân sách Nhà nước là phạm trù kinh tế và là phạm trù lịch sử. Ngân sách Nhà nước phản ảnh các quan hệ kinh tế phát sinh gắn liền với quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định” [9, tr.TS Tào Hữu Phùng và GS.TS Nguyễn Công Nghiệp, thì “NSNN là dự toán ( kế hoạch) thu – chi bằng tiền của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định ( phổ biến là một năm)” [10, tr. Theo Luật NSNN năm 2002, thì “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” [2, tr.
Bản chất của Ngân sách Nhà nước Tuy có nhiều khái niệm khác nhau về NSNN nhưng đều có bản chất chung là NSNN không thể tách rời Nhà nước. Bởi vì, NSNN phục vụ các nhu cầu chi tiêu Luan van 5 của Nhà nước và tất cả các nhu cầu chi tiêu đều được thỏa mãn các nguồn thu từ thuế, các khoản thu không mang tính chất thuế, vay nợ và các hình thức thu khác. NSNN là hệ thống các mối quan hệ thu, chi giữa Nhà nước và xã hội phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động, sử dụng các nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng quản lý, điều hành nền KT-XH thông qua các bảng dự toán và quyết toán các nguồn thu, nhiệm vụ chi bằng tiền trong quá trình thực hiện chức năng của Nhà nước trong thời gian nhất định thường là 1 năm [10]. Chức năng của Ngân sách Nhà nước Ngân sách Nhà nước là một bộ phận rất quan trọng đóng vai trò chủ đạo trong hệ thống tài chính quốc gia.
Vì vậy, NSNN cũng có hai chức năng là chức năng phân phối, chức năng điều chỉnh và kiểm soát [10]. - Chức năng phân phối: Bất cứ Nhà nước nào muốn tồn tại đòi hỏi phải có nguồn lực tài chính để đáp ứng các khoản chi tiêu cho hoạt động của mình, muốn vậy Nhà nước phải huy động vốn trong, ngoài nước. Nguồn huy động trong nước chủ yếu là nguồn thu từ thuế, phí, lệ phí và các nguồn thu hợp pháp khác. Nguồn huy động từ nước ngoài gồm viện trợ, vay nợ, chênh lệch xuất, nhập khẩu.
Vốn huy động được Nhà nước thực hiện phân phối mang tính chất không hoàn trả trực tiếp. - Chức năng điều chỉnh và kiểm soát: thể hiện quá trình huy động và sử dụng NSNN phải được thể hiện bằng các văn bản pháp luật, vì vậy phải được theo dõi, quản lý, giám sát, kiểm tra chặt chẽ các khoản thu, chi NSNN theo những tiêu chuẩn, định mức do Nhà nước quy định. Hai chức năng này có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách. Từ đó phát huy vai trò tích cực của NSNN đối với quá trình quản lý vĩ mô nền KT-XH, giúp cho Nhà nước quản lý NSNN được hiệu quả, đúng quy định Pháp Luật.
Vai trò của Ngân sách Nhà nước NSNN có vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động KT-XH, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của đất nước. Tuy nhiên, vai trò của NSNN bao giờ cũng gắn liền với vai trò của Nhà nước trong từng thời kỳ nhất định. Luan van 6 - Khai thác, huy động các nguồn tài chính đảm bảo nhu cầu chi của Nhà nước theo mục tiêu của từng giai đoạn Nhà nước thông qua quyền lực của mình để thu một phần của cải làm ra của xã hội vào NSNN với nhiều hình thức khác nhau, trong đó hình thức phổ biến là thu thuế, phí và lệ phí đây là nguồn thu chủ yếu của Nhà nước. Nhà nước sử dụng NSNN để xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng, mua sắm cơ sở vật chất và chi phí phục vụ quản lý hành chính của các cơ quan Nhà nước, công an, quân đội.
Đồng thời NSNN chi cho việc thực hiện các nhiệm vụ KT-XH của Nhà nước. - Quản lý, điều tiết vĩ mô theo mục tiêu của từng giai đoạn cho tăng trưởng kinh tế và bù đắp cho những khiếm khuyết của thị trường, kích thích sự tăng trưởng của nền kinh tế Nguồn thu của NSNN được thu từ mọi lĩnh vực hoạt động, mọi chủ thể KT- XH; chi của NSNN mang tính chất xã hội rộng lớn mà Nhà nước phải đảm bảo. Vì vậy NSNN có vai trò chi phối, phân bổ thu nhập, hướng dẫn, điều chỉnh các hoạt động tài chính của các chủ thể KT-XH khác. Các chính sách thu NSNN, chủ yếu là chính sách thuế đã điều tiết thu nhập, góp phần định hướng phát triển sản xuất.
Chính sách thuế có lợi sẽ thu hút doanh nghiệp đầu tư mạnh vào những nơi, những lĩnh vực cần thiết, ngược lại chính sách thuế khắt khe sẽ làm giảm bớt luồng di chuyển vốn đến nơi cần hạn chế sản xuất kinh doanh. Đồng thời, các khoản chi đầu tư vốn vào các tập đoàn kinh tế lớn và xây dựng kết cấu hạ tầng của NSNN chi phối, hướng dẫn, điều chỉnh các hoạt động kinh tế tài chính trong nền kinh tế quốc dân, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Nền kinh tế thị trường vốn có những khuyết tật của nó làm giảm hiệu quả sản xuất và tiêu dùng. Thông qua thu, chi NSNN, Nhà nước can thiệp để khắc phục những khuyết tật đó.
Bằng công cụ thuế, NSNN góp phần hướng dẫn đầu tư, định hướng sản xuất, hạn chế độc quyền. Chi tiêu NSNN đầu tư vào những công trình kết cấu hạ tầng, các lĩnh vực dịch vụ công ích mà các thành phần kinh tế khác không đầu tư và vào những ngành mũi nhọn, và có quy mô vốn lớn khai thác được tiềm năng lợi thế của đất nước. Luan van 7 - NSNN có vai trò điều tiết thị trường, giá cả và chống lạm phát Nền kinh tế hàng hoá hoạt động theo cơ chế thị trường có đặc điểm nổi bật là sự cạnh tranh giữa các nhà doanh nghiệp nhằm đạt được lợi thế trên thị trường. Hai yếu tố cơ bản của thị trưòng là cung - cầu và giá cả thường xuyên tác động lẫn nhau và chi phối hoạt động của thị trường.
Sự mất cân đối giữa cung và cầu gây biến động giá cả trên thị trường. Để đảm bảo lợi ích người sản xuất và người tiêu dùng. Nhà nước sử dụng NSNN để can thiệp vào thị trường thông qua chính sách tăng hay giảm thuế và điều chỉnh các khoản chi của NSNN dưới hình thức tài trợ vốn, trợ giá và sử dụng các quỹ dự trữ Nhà nước về hàng hoá và dự trữ tài chính. Trong quá trình điều chỉnh thị trường, NSNN còn tác động đến sự hoạt động của thị trường tiền tệ, thị trường vốn, thông qua các chính sách huy động và đầu tư vốn linh hoạt để điều tiết cung, cầu tiền, kiểm soát lạm phát [10].
Những vai trò tích cực nói trên của NSNN chỉ có thể có được nếu sử dụng đúng đắn các chức năng của nó trong thực tiễn, ngược lại nó có thể cản trở sự phát triển KT-XH, làm tăng các khuyết tật của kinh tế thị trường. Vì vậy, Nhà nước đề ra các chính sách, giải pháp quản lý thu – chi NSNN phải tôn trọng các quy luật và các yêu cầu khách quan của thực tiễn quá trình phát triển KT-XH. Hệ thống NSNN và phân cấp quản lý NSNN 1. Hệ thống NSNN ở Việt Nam Hệ thống NSNN tại mỗi quốc gia có khác nhau, tùy theo hệ thống tổ chức hành chính Nhà nước và phân cấp quản lý ngân sách của từng nước.
Hiện nay theo Luật NSNN năm 2002, hệ thống NSNN ở Việt Nam gồm Ngân sách trung ương và ngân sách địa phương [2]. - Ngân sách trung ương bao gồm các đơn vị dự toán của cấp này. Mỗi bộ, cơ quan ngang bộ là một đơn vị dự toán của NSTW. - Ngân sách địa phương bao gồm ngân sách tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là ngân sách cấp tỉnh); ngân sách huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là ngân sách cấp huyện) và ngân sách xã, phường, thị trấn (gọi chung là ngân sách cấp xã).
Luan van 8 Hệ thống NSNN Việt Nam được tổ chức theo sơ đồ sau đây NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC NGÂN SÁCH TRUNG ƯƠNG NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG Ngân sách Ngân sách huyện, Ngân sách tỉnh và TP quận, thị xã, trực thuộc xã, thành phường, trung ương phố thuộc thị trấn tỉnh 1. Phân cấp quản lý Ngân sách Nhà nước - Sự cần thiết phải phân cấp quản lý NSNN Phân cấp quản lý KT-XH giữa trung ương và các cấp chính quyền địa phương thì phải có sự chuyển giao nguồn tài chính giữa cấp trên và cấp dưới nhằm đảm bảo điều kiện vật chất để thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính và phân cấp quản lý NSNN để khai thác, phát huy thế mạnh riêng về điều kiện tự nhiên và các nguồn lực của mỗi cấp chính quyền Nhà nước. Phân cấp quản lý NSNN là xác định phạm vi, quyền hạn, trách nhiệm của các cấp ngân sách trong việc quản lý NSNN, phân chia các nguồn thu và nhiệm vụ chi của NSNN cho từng cấp để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của cấp đó. - Nội dung phân cấp quản lý NSNN Nội dung phân cấp quản lý NSNN bao gồm thẩm quyền ban hành các chế độ, chính sách thu, chi của NSNN, các nguồn thu từng cấp được hưởng, nhiệm vụ của từng cấp ngân sách phải chi, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của từng cấp chính quyền: Trung ương, tỉnh, huyện và xã.
Để khai thác và quản lý tốt nguồn thu, Luật NSNN đã phân cấp nguồn thu theo các nội dung: Các khoản thu từng cấp ngân sách được hưởng 100%, còn gọi là Luan van 9 nguồn thu cố định, ngân sách của các cấp chính quyền đều có khoản thu này.