Luận Văn Thạc Sĩ: Quản Lý và Sử Dụng Kinh Phí Ngân Sách Địa Phương Tại Lâm Đồng

Luận văn thạc sĩ về quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách địa phương tại cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp tỉnh Lâm Đồng. Nghiên cứu chuyên sâu.

Chuyên ngành

Quản lý ngân sách

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn
111
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý ngân sách địa phương tại tỉnh Lâm Đồng

Quản lý ngân sách địa phương là một nhiệm vụ trọng yếu, quyết định đến hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước và sự phát triển kinh tế - xã hội tại mỗi địa bàn. Tại Lâm Đồng, công tác này đóng vai trò trung tâm trong việc huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính công. Ngân sách nhà nước (NSNN) không chỉ là công cụ đảm bảo chi tiêu cho các cơ quan hành chính (CQHC)đơn vị sự nghiệp (ĐVSN), mà còn là công cụ điều tiết vĩ mô, định hướng cơ cấu kinh tế và thực hiện các chính sách an sinh xã hội. Việc nghiên cứu sâu về quản lý ngân sách địa phương tại Lâm Đồng giúp nhận diện rõ nét cơ sở lý luận, thực tiễn và những định hướng cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công. Hệ thống ngân sách tại Việt Nam được tổ chức theo bốn cấp, trong đó ngân sách địa phương có vai trò tự chủ tương đối, đảm bảo nguồn lực cho các nhu cầu phát triển đặc thù. Nguyên tắc quản lý NSNN đòi hỏi sự thống nhất, công khai, minh bạch và tuân thủ chặt chẽ theo Luật Ngân sách Nhà nước. Trước khi có luật, quy trình quản lý bộc lộ nhiều yếu kém, phụ thuộc lớn vào cơ chế “xin-cho”. Sau khi luật được ban hành và sửa đổi, đặc biệt là qua Nghị định 60/2003/NĐ-CP, công tác quản lý ngân sách địa phương tại Lâm Đồng đã có những chuyển biến tích cực, hướng tới sự chuyên nghiệp và hiệu quả hơn. Bài viết này sẽ phân tích chi tiết thực trạng, những thách thức còn tồn tại và đề xuất các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính công tại tỉnh.

1.1. Bản chất và vai trò của ngân sách nhà nước tại địa phương

Theo Luật NSNN Việt Nam, ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được cơ quan có thẩm quyền quyết định và thực hiện trong một năm. Tại cấp địa phương, ngân sách đóng vai trò kép. Thứ nhất, nó là công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu chi tiêu cho bộ máy chính quyền địa phương, từ chi thường xuyên cho quản lý hành chính đến chi đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng. Thứ hai, quản lý ngân sách địa phương hiệu quả giúp điều tiết kinh tế - xã hội, định hướng đầu tư, kích thích sản xuất kinh doanh và thực hiện các chính sách xã hội như giáo dục, y tế. Sự thành công trong điều chỉnh thị trường và ổn định giá cả cũng phụ thuộc lớn vào việc sử dụng hợp lý nguồn ngân sách.

1.2. Hệ thống và nguyên tắc quản lý NSNN theo quy định

Hệ thống NSNN Việt Nam được tổ chức thành 4 cấp: trung ương, tỉnh, huyện và xã, phù hợp với mô hình nhà nước thống nhất. Mối quan hệ giữa các cấp ngân sách dựa trên nguyên tắc phân định rõ nguồn thu, nhiệm vụ chi và bổ sung từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới để đảm bảo sự phát triển cân đối. Việc quản lý và sử dụng ngân sách tuân thủ các nguyên tắc cơ bản: thống nhất, đầy đủ, trung thực và công khai. Đặc biệt, nguyên tắc tập trung dân chủ, có phân công, phân cấp quản lý rõ ràng là nền tảng. Quốc hội quyết định dự toán NSNN và phê chuẩn quyết toán, trong khi HĐND các cấp có thẩm quyền tương ứng tại địa phương. Điều này tạo ra một khung pháp lý chặt chẽ cho toàn bộ chu trình ngân sách.

II. Thực trạng thách thức quản lý ngân sách địa phương Lâm Đồng

Giai đoạn trước khi Luật Ngân sách Nhà nước ra đời, công tác quản lý ngân sách địa phương tại Lâm Đồng đối mặt với nhiều bất cập nghiêm trọng. Quy trình quản lý thiếu một chuẩn mực thống nhất, mang tính tình huống và thiếu chặt chẽ. Việc lập và phê duyệt dự toán chủ yếu dựa trên kinh nghiệm và số liệu năm trước, dẫn đến cơ chế “xin-cho” và thiếu công bằng trong phân bổ nguồn lực. Quá trình chấp hành dự toán cũng gặp nhiều vấn đề, các đơn vị không chủ động được kế hoạch chi tiêu mà phụ thuộc vào sự phân phối nhỏ giọt từ cơ quan tài chính (CQTC). Tình trạng “chi chạy kinh phí” vào cuối năm trở nên phổ biến khi tồn quỹ ngân sách lớn, gây lãng phí và kém hiệu quả. Hơn nữa, dự toán được duyệt chưa phải là cơ sở pháp lý cao nhất, nhiều khoản chi ngoài dự toán vẫn được bổ sung tùy tiện. Công tác quyết toán cũng mang tính hình thức, thiếu sự kiểm tra chi tiết. Kể cả sau khi luật có hiệu lực, một số thách thức vẫn tồn tại, nổi bật là việc giao dự toán ngân sách còn chậm trễ. Tình trạng này xuất phát từ quy trình lồng ghép qua nhiều cấp và sự lúng túng của các sở, ngành trong việc phân khai dự toán cho đơn vị trực thuộc. Những hạn chế này đòi hỏi phải có những biện pháp cải cách mạnh mẽ hơn trong quản lý ngân sách địa phương.

2.1. Hạn chế trong lập và phê duyệt dự toán giai đoạn trước

Trước khi có Luật NSNN, công tác lập và phê duyệt dự toán tại Lâm Đồng thiếu các tiêu chuẩn, định mức chi rõ ràng. Các đơn vị lập dự toán dựa trên số thực tế năm trước, không phản ánh đúng nhu cầu và nhiệm vụ mới. Điều này tạo ra sự thiếu công bằng, dân chủ trong phân phối tài chính. Cơ quan phê duyệt dự toán có thể xử lý tùy tiện, dễ phát sinh tiêu cực. Quy trình yêu cầu đơn vị lập dự toán hai lần, một lần sơ bộ và một lần chính thức sau khi có số kiểm tra từ CQTC, gây mất thời gian và tăng tính hành chính. Bản chất của việc lập dự toán khi đó chưa thực sự là một công cụ kế hoạch hóa chiến lược cho quản lý ngân sách địa phương.

2.2. Bất cập trong chấp hành và quyết toán chi ngân sách

Trong giai đoạn này, việc chấp hành dự toán thiếu tính chủ động. Các đơn vị phụ thuộc vào hạn mức kinh phí được phân bổ theo tháng hoặc quý từ CQTC. Việc phân bổ này lại dựa vào tình trạng tồn quỹ ngân sách, không căn cứ vào nhu cầu thực tế của đơn vị. Hơn nữa, Kho bạc Nhà nước (KBNN) chưa thực hiện kiểm soát chi, các đơn vị có xu hướng sử dụng tiền mặt là chủ yếu. Công tác quyết toán chi ngân sách cũng chỉ mang tính tổng hợp số liệu, thiếu khả năng đi sâu kiểm tra nội dung và tính chất chi tiêu của từng đơn vị. Nhiều đơn vị hợp thức hóa số liệu quyết toán cho phù hợp với dự toán ban đầu, làm giảm tính minh bạch và hiệu quả của công tác quản lý tài chính.

2.3. Tồn tại về thời gian giao dự toán ngân sách hàng năm

Một trong những tồn tại lớn nhất kéo dài ngay cả sau khi Luật NSNN có hiệu lực là thời gian phân bổ và phê duyệt dự toán chưa được thực hiện nghiêm túc. Theo thống kê của KBNN tỉnh Lâm Đồng, giai đoạn 2003-2007, không có đơn vị nào có dự toán được duyệt trước ngày 31/12. Đến giai đoạn 2008-2011, tình hình có cải thiện nhưng vẫn còn chậm. Nguyên nhân chính là quy trình lồng ghép ngân sách địa phương vào ngân sách trung ương, phải chờ Quốc hội phê chuẩn. Thêm vào đó, một số sở, ngành còn lúng túng hoặc cố tình giữ lại kinh phí, không phân bổ hết ngay từ đầu năm, ảnh hưởng đến tiến độ hoạt động của các đơn vị cấp dưới. Việc chậm giao dự toán ngân sách làm cho các đơn vị không thể chủ động thực hiện nhiệm vụ ngay từ đầu năm.

III. Phương pháp cải tiến quản lý sử dụng NS địa phương Lâm Đồng

Sau khi Luật Ngân sách Nhà nước có hiệu lực, đặc biệt là các văn bản hướng dẫn như Nghị định 60/2003/NĐ-CP và Thông tư 59/2003/TT-BTC, công tác quản lý ngân sách địa phương tại Lâm Đồng đã có những bước chuyển mình quan trọng. Thay đổi cốt lõi nằm ở nguyên tắc chấp hành dự toán. Dự toán chi ngân sách được duyệt trở thành căn cứ pháp lý cao nhất, là điều kiện bắt buộc để cấp phát và chi tiêu. Mọi khoản chi không có trong dự toán đều bị coi là vi phạm pháp luật. Quy trình lập và giao dự toán được chuẩn hóa, tạo sự công khai, minh bạch, hạn chế tình trạng bổ sung tùy tiện. Vai trò của Hội đồng nhân dân (HĐND) trong việc giám sát ngân sách được đề cao ngay từ khâu phân bổ. Một cải tiến đột phá là việc tăng cường vai trò của Kho bạc Nhà nước (KBNN) trong việc kiểm soát các khoản chi. KBNN thực hiện kiểm soát trước khi xuất quỹ, đảm bảo các khoản chi phải có trong dự toán, đúng chế độ, tiêu chuẩn, định mức. Phương thức cấp phát được chuyển đổi từ hạn mức sang rút dự toán, giúp đơn vị sử dụng ngân sách chủ động hơn. Những phương pháp cải tiến này đã từng bước đưa công tác quản lý và sử dụng ngân sách tại các CQHC, ĐVSN ở Lâm Đồng đi vào nề nếp, nâng cao kỷ luật tài chính và hiệu quả sử dụng nguồn lực công.

3.1. Đổi mới quy trình lập phân bổ và giao dự toán ngân sách

Quy trình mới đã có sự chuyển biến tích cực. Các đơn vị lập dự toán dựa trên nhiệm vụ năm sau và các định mức, tiêu chuẩn do nhà nước ban hành. Cơ quan tài chính và đơn vị sử dụng ngân sách có sự thảo luận để thống nhất số liệu trước khi trình HĐND. Việc UBND phê duyệt dự toán chi NS cụ thể đến từng đơn vị tạo sự công khai, dân chủ. HĐND giám sát chặt chẽ cơ cấu chi, đảm bảo nguồn lực được ưu tiên cho các mục tiêu trọng điểm như giáo dục, y tế, đầu tư phát triển. Điều này hạn chế được tính chủ quan, áp đặt của CQTC và nâng cao trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc quản lý ngân sách địa phương.

3.2. Vai trò của Kho bạc Nhà nước KBNN trong kiểm soát chi

Đây là thay đổi mang tính cách mạng. KBNN không chỉ là người giữ quỹ mà còn là người "gác cổng" cho ngân sách. Mọi khoản chi đều phải qua KBNN kiểm soát về tính hợp lệ, hợp pháp. KBNN có quyền từ chối thanh toán nếu phát hiện khoản chi không đúng dự toán, sai chế độ. Việc kiểm soát chi tiêu ngân sách trước, trong quá trình thực hiện giúp ngăn chặn lãng phí, tiêu cực ngay từ đầu. Phương thức cấp phát cũng thay đổi, từ tạm ứng đến thanh toán trực tiếp, giúp đơn vị chủ động trong hoạt động nhưng vẫn đảm bảo sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước. Vai trò của KBNN đã góp phần củng cố kỷ luật tài chính một cách rõ rệt.

IV. Top giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí NS Lâm Đồng

Để tiếp tục hoàn thiện công tác quản lý ngân sách địa phương tại Lâm Đồng, nghiên cứu đã đề xuất một loạt giải pháp đồng bộ. Trọng tâm là việc đổi mới toàn diện từ khâu lập, phân bổ đến quyết toán ngân sách, hướng tới quản lý ngân sách trung hạn và theo kết quả đầu ra. Việc cải tiến hình thức cấp phát, thanh toán qua KBNN cần được tiếp tục để đơn giản hóa thủ tục nhưng vẫn đảm bảo kiểm soát chặt chẽ. Nâng cao hiệu quả giám sát chi tiêu là một giải pháp then chốt, bao gồm cả giám sát của HĐND, cơ quan tài chính và hoạt động kiểm toán ngân sách. Một yếu tố quan trọng khác là phân định rõ ràng trách nhiệm và quyền hạn của từng cơ quan trong chu trình ngân sách, từ thủ trưởng đơn vị, cơ quan chủ quản đến cơ quan tài chính và KBNN. Hoàn thiện hệ thống kế toán nhà nước và cơ chế tự chủ tài chính cho các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp cũng là những ưu tiên hàng đầu. Đặc biệt, việc đổi mới phương thức quản lý chi ngân sách cấp xã sẽ giúp tăng cường hiệu quả ở cấp cơ sở, nơi nguồn lực tiếp cận trực tiếp với người dân. Những giải pháp này khi được triển khai đồng bộ sẽ tạo ra một nền tảng vững chắc để nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí NS.

4.1. Tăng cường giám sát và kiểm toán chi tiêu ngân sách

Giám sát hiệu quả là điều kiện tiên quyết để đảm bảo kỷ luật tài chính. Cần nâng cao vai trò giám sát của HĐND và các cơ quan dân cử. Song song đó, hoạt động kiểm toán ngân sách phải được tăng cường cả về tần suất và chất lượng. Kết quả kiểm toán phải được công khai và các kiến nghị phải được thực hiện nghiêm túc. Việc này không chỉ giúp phát hiện và xử lý kịp thời các sai phạm mà còn có tác dụng răn đe, phòng ngừa lãng phí và tham nhũng trong quản lý chi tiêu ngân sách.

4.2. Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính cho đơn vị sự nghiệp

Trao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSN) là một chủ trương đúng đắn. Cần hoàn thiện cơ chế để các ĐVSN có thể chủ động sử dụng biên chế và kinh phí, khai thác các nguồn thu sự nghiệp, và phân phối thu nhập theo kết quả lao động. Điều này giúp giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, đồng thời tạo động lực để các đơn vị nâng cao chất lượng dịch vụ công. Việc thực hiện khoán chi trong cơ quan hành chính cũng cần được nhân rộng và hoàn thiện, khuyến khích tiết kiệm và nâng cao hiệu quả công việc.

4.3. Phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan trong chu trình NS

Một chu trình ngân sách hiệu quả đòi hỏi sự phân định rạch ròi về trách nhiệm và quyền hạn. Thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách phải chịu trách nhiệm cao nhất về việc chi tiêu tại đơn vị mình. Cơ quan chủ quản có trách nhiệm hướng dẫn và kiểm tra. Cơ quan tài chính chịu trách nhiệm về tham mưu phân bổ và thẩm tra quyết toán. KBNN chịu trách nhiệm kiểm soát thanh toán. Khi trách nhiệm của mỗi bên được xác định rõ ràng, việc phối hợp trong quản lý ngân sách địa phương sẽ trở nên nhịp nhàng và hiệu quả hơn, tránh tình trạng đùn đẩy trách nhiệm khi có sai sót xảy ra.

26/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Những vấn đề chung quản lý sử dụng ngân sách nhà nước. Thực trạng quản lý và sử dụng Ngân sách địa phương tại Cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp ở tỉnh Lâm Đồng trong những năm qua. Tăng cường các biện pháp quản lý và sử dụng kinh phí ngân sách địa phương tại các CQHC, đơn vị sự nghiệp trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng.

5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG QUẢN LÝ SỬ DỤNG NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1. Bản chất, vai trò NSNN 1. Khái niệm, bản chất Ngân sách nhà nƣớc Theo khái niệm chung thì NSNN là dự toán thu - chi bằng tiền của Nhà nước trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. Như vậy, NSNN là một kế hoạch tài chính cơ bản của quốc gia, trong đó gồm có kế hoạch thu, kế hoạch chi và được lập theo phương pháp cân đối: thu phải đủ chi, chi không vượt thu.

Theo Luật NSNN Việt Nam thì: NSNN là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Năm NS hay còn gọi là năm tài chính, là giai đoạn mà trong đó, dự toán thu - chi tài chính đã được phê chuẩn của Quốc hội có hiệu lực thi hành. Ở tất cả các nước, năm NS đều có thời hạn bằng một năm dương lịch, nhưng thời điểm bắt đầu và kết thúc ở mỗi nước có khác nhau. Ở đa số các nước, năm NS trùng với năm dương lịch, bắt đầu ngày 1/1 và kết thúc vào ngày 31/12, như: Pháp, Bỉ, Hà Lan, Trung Quốc, Philippine,.

Ở các nước khác, thời điểm bắt đầu và kết thúc năm NS thường rơi vào tháng 3,4,6 hoặc 7 hàng năm. Cụ thể là: Anh, Nhật, Canada, Singapore. có năm NS bắt đầu vào ngày 1/4 năm trước và kết thúc vào ngày 31/3 năm sau; Ý, Na Uy, Đài Loan, Úc. có năm NS bắt đầu vào ngày 1/7 năm trước và kết thúc vào ngày 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 30/6 năm sau; Mỹ có năm NS bắt đầu vào ngày 1/10 năm trước và kết thúc vào ngày 30/9 năm sau.

Việc quy định năm NS hoàn toàn là ý định chủ quan của Nhà nước. Tuy nhiên, ý định này cũng bắt nguồn từ những yếu tố tác động khác nhau, trong đó có hai yếu tố cơ bản là: - Đặc điểm hoạt động của nền kinh tế có liên quan đến nguồn thu của NSNN: chế độ kế toán, thống kê; tính thời vụ của sản xuất nông nghiệp. - Đặc điểm hoạt động của cơ quan lập pháp: các kỳ họp của Quốc Hội để phê chuẩn NSNN. Ở Việt Nam, năm NS bắt đầu từ ngày 1/1 và kết thúc vào ngày 31/12 hàng năm.

Điều này phù hợp với các kỳ họp của Quốc Hội. Vai trò của Ngân sách nhà nƣớc 1. Công cụ huy động nguồn tài chính để đảm bảo các nhu cầu chỉ tiêu của nhà nƣớc Đây là vai trò lịch sử của NSNN mà trong cơ chế nào và trong thời đại nào NSNN cũng phải thực hiện. Vai trò này của NSNN được xác định trên cơ sở bản chất kinh tế của NSNN.

Sự hoạt động của nhà nước trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế xã hội luôn đòi hỏi phải có các nguồn tài chính để chi tiêu cho những mục đích xác định. Các nhu cầu chi tiêu của nhà nước phải được thỏa mãn từ các nguồn thu bằng hình thức thuế và thu ngoài thuế. Việc huy động nguồn thu vào tay nhà nước để đảm bảo các yêu cầu chi tiêu cần thiết phải chú ý đến ba vấn đề: - Mức động viên vào NSNN đối với các thành viên trong xã hội qua thuế và các khoản thu khác có liên quan phải hợp lý. Mức động viên cao hay thấp đều có tác dụng tiêu cực.

- Tỉ lệ động viên vào NSNN đối với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vừa đảm bảo hợp lý với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, vừa đảm bảo cho đơn vị cơ sở có điều kiện tích tụ vốn để tái sản xuất mở rộng. - Các công cụ kinh tế được sử dụng tạo nguồn thu cho NSNN và thực hiện các khoản chi tiêu của NSNN. Công cụ điều tiết vĩ mô nền KT-XH của nhà nƣớc Khi đề cập đến các công cụ tài chính trong quản lý và điều tiết vĩ mô nền kinh tế - xã hội (KT-XH), nhà nước không thể không sử dụng một công cụ rất quan trọng đó là NSNN. Bởi lẽ, phạm vi phát huy vai trò của NSNN rất rộng và trên một mức độ lớn, nó tương đồng với phạm vi phát huy chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời sống KT-XH.

Hay nói cách khác, do cơ chế thị trường cần thiết phải có sự điều chỉnh vĩ mô từ phía nhà nước. Song, nhà nước cũng chỉ có thể thực hiện điều chỉnh thành công khi có nguồn tài chính đảm bảo, tức là khi sử dụng triệt để và có hiệu quả công cụ NSNN. Vai trò điều tiết vĩ mô nền KT-XH của NSNN có thể được khái quát hóa trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và thị trường như sau: Về mặt kinh tế NSNN có vai trò rất quan trọng trong việc định hướng hình thành cơ cấu kinh tế mới, kích thích phát triển sản xuất kinh doanh và chống độc quyền. NSNN cung cấp nguồn kinh phí để nhà nước đầu tư cho cơ sở kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt, để trên cơ sở đó tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.

Việc hình thành các doanh nghiệp nhà nước cũng là một trong những biện pháp căn bản để chống độc quyền và giữ cho thị trường khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Hỗ trợ cho sự phát triển của các doanh nghiệp trong những trường hợp cần thiết đảm bảo cho sự ổn định về cơ cấu hoặc chuẩn bị chuyển đổi sang cơ cấu mới, cao hơn. Thông qua các khoản thuế và chính sách thuế sẽ đảm bảo thực hiện vai trò định hướng đầu tư, kích thích hoặc hạn chế sản xuất kinh doanh. Các nguồn vay nợ từ nước ngoài và trong nước sẽ tạo thêm nguồn vốn cho nền kinh tế.

Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng các nguồn vốn vay nợ của nhà nước cũng là một vấn đề cần phải xem xét thận trọng khi quyết định thực hiện các biện pháp huy động tiền vay. Về mặt xã hội Đầu tư của NS để thực hiện các chính sách xã hội: chi Giáo dục - đào tạo, y tế, kế hoạch hóa gia đình, văn hóa, thể thao, truyền thanh, chi bảo đảm xã hội, sắp xếp lao động và việc làm, trợ giá mặt hàng. Thông qua thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm điều tiết thu nhập để phân phối lại cho các đối tượng có thu nhập thấp. Thông qua thuế gián thu nhằm hướng dẫn tiêu dùng hợp lý, tiết kiệm.

Tuy nhiên, vấn đề sử dụng công cụ NSNN để điều chỉnh các vấn đề xã hội không đơn giản, đòi hỏi phải được nghiên cứu đầy đủ và phải có sự thống nhất giữa chính sách và biện pháp. Chẳng hạn: Khi trợ giá điện, xăng dầu, dịch vụ truyền hình. thì những đối tượng được hưởng không phải là người nghèo, mà chính là những người có thu nhập trung bình hoặc cao. Về mặt thị trường NSNN có vai trò quan trọng đối với việc thực hiện các chính sách về ổn định giá cả, thị trường và chống lạm phát.

Bằng công cụ thuế, phí, lệ phí, vay và chính sách chi NSNN có thể điều chỉnh được giá cả, thị trường một cách chủ động. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Một chính sách NS thắt chặt hay nới rộng đều có thể tác động mạnh mẽ đến cung - cầu xã hội. Việc huy động của NSNN dưới các hình thức thuế, phí, lệ phí, vay và kể cả bảo hiểm xã hội trên tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tổng sản phẩm quốc dân (GNP) chiếm tỉ trọng cao thì sự cung ứng vốn đầu tư dài hạn, vốn tiền tệ ngắn hạn của các nhà đầu tư và đầu tư của dân sẽ giảm, vốn tự đầu tư sẽ khan hiếm hơn. Mặt khác, nó sẽ làm cho cầu về hàng hóa, dịch vụ của dân cư giảm xuống, nhưng NSNN lại có điều kiện để tăng cầu với quy mô lớn và chi cho đầu tư lớn sẽ kích thích tăng cung.

Ngược lại, nếu NSNN huy động trên GDP và GNP chiếm tỉ trọng thấp thì nguồn tự đầu tư tăng lên, thúc đẩy tăng cung, đồng thời kích thích tăng cầu về hàng hóa, dịch vụ, nhưng NS lại không có điều kiện để tăng cầu và chi cho đầu tư. Trên thị trường tài chính, nhà nước vay vốn với lãi suất cao sẽ có tác động tăng cung ứng vốn từ phía các nhà đầu tư và tiết kiệm tiêu dùng để dành cho tương lai, đồng thời làm giảm lượng cầu về vốn đầu tư của doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Ngược lại, khi lãi suất các khoản vay của nhà nước giảm xuống dưới mức lợi tức bình quân toàn xã hội, các nhà đầu tư sẽ tìm môi trường đầu tư vào sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ mà không muốn cho nhà nước vay. Mặt khác, lãi suất các khoản vay của nhà nước có vị trí quan trọng trên thị trường chứng khoán, có thể tham gia điều tiết quan hệ cung cầu trên thị trường chứng khoán.

Vấn đề dự trữ nhà nước, trong cơ chế thị trường, nhà nước không thể bắt buộc các doanh nghiệp bán hàng theo giá cả quy định, mà ngược lại, giá cả là do thị trường quyết định, phụ thuộc vào quan hệ cung - cầu và các yếu tố khác. Trong quá trình biến đổi của mình, sẽ có lúc giá cả lên cao, gây ra những cơn sốt nhất thời và có lúc giá cả lại xuống quá thấp. Để bảo vệ 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyền lợi của người tiêu dùng và kích thích sản xuất phát triển, nhà nước cần phải theo dõi sự biến động của giá cả trên thị trường và phải có nguồn dự trữ về hàng hóa và tài chính để điều chỉnh kịp thời. Ngưồn dự trữ này được hình thành từ kinh phí cấp phát của NSNN.

Do đó, sự thành công của nhà nước trong điều chỉnh giá cả và thị trường thông qua công cụ dự trữ nhà nước phụ thuộc vào kinh phí cấp phát của NSNN cho mục đích này. Chống lạm phát là một nội dung quan trọng trong quá trình điều chỉnh thị trường.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ