Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quản lý ngân sách nhà nước là một mắt xích cốt lõi trong hệ thống tài chính công, phản ánh toàn bộ các hoạt động thu chi bằng tiền của Nhà nước trong từng giai đoạn nhằm thực thi các chức năng kinh tế - xã hội. Sau khi Luật Ngân sách nhà nước ngày 20/3/1996 (có hiệu lực từ ngày 01/01/1997) và Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 được ban hành, hành lang pháp lý về phân cấp quản lý ngân sách giữa các cấp chính quyền đã từng bước được hoàn thiện.

Tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương, công tác quản lý ngân sách diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế địa phương duy trì tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 8,5%, lạm phát ở mức kiểm soát được, đời sống người dân từng bước được cải thiện và tiến trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng. Sự xuất hiện của các khu, cụm công nghiệp tại khu vực nông thôn, quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế cùng các tác động từ sự kiện Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vừa tạo ra cơ hội tăng thu ngân sách, vừa đặt ra nhiều thách thức phức tạp đối với năng lực phân bổ dự toán, kiểm soát chi tiêu và quản lý tài chính công ở cấp huyện.

Xuất phát từ bối cảnh thực tiễn trên, tác giả đã thực hiện chuyên đề nghiên cứu với các nhiệm vụ và mục tiêu trọng tâm:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về ngân sách nhà nước, các nguyên tắc quản lý và quy trình lập, chấp hành, quyết toán ngân sách ở cấp huyện.
  2. Khảo sát, phân tích thực trạng tình hình thu - chi ngân sách và công tác quản lý ngân sách trên địa bàn huyện Tứ Kỳ giai đoạn 2006 – 2008.
  3. Đánh giá những kết quả đạt được, chỉ rõ những mặt hạn chế, yếu kém trong phân cấp nguồn thu, phân bổ dự toán và chấp hành ngân sách huyện.
  4. Đề xuất phương hướng phát triển kinh tế - xã hội và các nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý ngân sách huyện Tứ Kỳ trong giai đoạn tiếp theo.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản lý thu, chi và cân đối ngân sách nhà nước cấp huyện.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương (gồm 27 đơn vị hành chính xã, thị trấn).
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu thực tiễn và số liệu dự toán, quyết toán ngân sách tập trung trong giai đoạn 2006 – 2008, có liên hệ với các mốc số liệu thống kê và văn bản giai đoạn trước đó (1997 – 1999).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng trên nền tảng khoa học tài chính công và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Việt Nam:

  • Khái niệm và bản chất: Ngân sách nhà nước được xác định là toàn bộ các khoản thu, chi bằng tiền của Nhà nước trong dự toán đã được xác định trong một năm nhằm bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được giao. Bản chất thu ngân sách mang tính quyền lực pháp lý (cưỡng bức) thông qua hệ thống thuế, phí, lệ phí. Bản chất chi ngân sách là sự phân bổ quỹ tiền tệ tập trung để duy trì bộ máy hành chính, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, bảo đảm an ninh quốc phòng và thực hiện các chính sách an sinh xã hội.
  • Quan điểm cân đối ngân sách: Tác giả hệ thống hóa 3 quan điểm cân đối thu - chi gồm: (1) Thu bao nhiêu chi bấy nhiêu ("thắt lưng buộc bụng", hệ số an toàn cao nhưng kìm hãm tăng trưởng); (2) Xuất phát từ nhu cầu chi để phát triển nguồn thu (chấp nhận vay nợ, tiềm ẩn nguy cơ lạm phát, thâm hụt); (3) Tận dụng các nguồn vay ưu đãi, ưu tiên chi để nuôi dưỡng nguồn thu lâu dài kết hợp chính sách tiết kiệm nội bộ.
  • Hệ thống nguyên tắc quản lý: Gồm 12 nguyên tắc chỉ đạo: nguyên tắc đầy đủ trọn vẹn; cân đối ngân sách; minh bạch, dân chủ; trung thực chính xác; bảo đảm hệ thống tồn tại vững mạnh; kết hợp hài hòa các lợi ích; tiết kiệm và hiệu quả (dẫn chứng quan điểm của C. Mác về quy luật tiết kiệm thời gian); chuyên môn hóa; giữ bí mật ý đồ tiềm năng; tận dụng thời cơ và môi trường hoạt động; biết dừng lại đúng lúc; dám mạo hiểm đưa ra các quyết định đột phá.
  • Căn cứ pháp lý: Luật Ngân sách nhà nước năm 1996 (sửa đổi, bổ sung) và Luật Ngân sách nhà nước năm 2002; Nghị định số 57/2002/NĐ-CP và Nghị định số 24/2006/NĐ-CP về pháp lệnh phí và lệ phí; Nghị định số 93/2006/NĐ-CP và Nghị định số 94/2006/NĐ-CP về chế độ tiền lương; Quyết định số 222/2005/QĐ-TTg về phát triển thương mại; Quyết định số 94/2006/QĐ-TTg về kế hoạch cải cách hành chính; Chỉ thị số 24/2007/CT-TTg về chấn chỉnh thực hiện quy định phí, lệ phí; Thông tư số 49/2005/TT-BTC; Quyết định số 4329/QĐ-UBND ngày 07/12/2007 của UBND tỉnh Hải Dương.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả áp dụng bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết từ các giáo trình, tài liệu chuyên ngành tài chính công.
  • Phương pháp thống kê, mô tả số liệu thu - chi ngân sách theo hệ thống bảng biểu và danh mục mục lục ngân sách.
  • Phương pháp so sánh đối chiếu giữa số liệu dự toán qua các năm (2006, 2007, 2008) và so sánh giữa các lĩnh vực chi.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp do Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương cung cấp, kết hợp các báo cáo thống kê kinh tế - xã hội của địa phương.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1 : Cơ sở lí luận về quản lí ngân sách huyện

Chương 1 tập trung làm rõ vai trò của ngân sách cấp huyện với tư cách là một cấp ngân sách trong hệ thống tài chính quốc gia. Tác giả phân tích ngân sách huyện đóng vai trò điều tiết, kích thích sản xuất kinh doanh địa phương, xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, thực hiện phân phối lại thu nhập và bảo đảm an sinh xã hội.

Nội dung chương trình bày chi tiết cơ cấu thu (thuế ngoài quốc doanh, lệ phí trước bạ, thuế nhà đất, thu tiền sử dụng đất, phí, lệ phí, trợ cấp từ ngân sách cấp trên...) và cơ cấu chi (chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên cho các sự nghiệp kinh tế, giáo dục, y tế, văn hóa thông tin, quản lý nhà nước, quốc phòng, an ninh). Đồng thời, tác giả khái quát quy trình quản lý ngân sách qua 3 giai đoạn: lập dự toán, chấp hành dự toán và quyết toán ngân sách huyện; phân tích các nhóm nhân tố tác động như thể chế chính trị, cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế. Phần cuối chương tổng kết bài học kinh nghiệm từ các địa phương trong cả nước về công tác quản lý con người, lập dự toán, điều hành thu chi qua Kho bạc Nhà nước và tăng cường kiểm tra, giám sát tài chính.

Chương 2 : Thực trạng quản lí ngân sách huyện Tứ Kỳ – Tỉnh Hải Dưong

Chương 2 mô tả khái quát đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Tứ Kỳ: địa bàn có 27 xã, thị trấn, hệ thống sông ngòi bao bọc thuận lợi giao thông thủy, trục đường bộ chính là đường 191 (được nâng cấp thành đường 391). Kinh tế có bước chuyển dịch sang trồng cây ăn quả (vải, nhãn, bưởi), phát triển kinh tế trang trại theo mô hình VAC/VAT, hình thành các cơ sở may mặc, mây tre đan xuất khẩu (thị trấn Tứ Kỳ), thêu may (Hưng Đạo), gạch men (Ngọc Sơn). Sự nghiệp giáo dục chiếm 35% - 40% chi ngân sách huyện; 100% trẻ sơ sinh được tiêm chủng định kỳ. Tuy nhiên, địa phương vẫn đối mặt với các vấn đề khiếu kiện đất đai, giải phóng mặt bằng, trộm cắp và cờ bạc (vụ việc năm 2005 - 2006 tại thị trấn Tứ Kỳ).

Về thực trạng quản lý thu ngân sách, số liệu dự toán thu trên địa bàn liên tục tăng qua các năm:

STT Chỉ tiêu thu ngân sách Dự toán năm 2006 (triệu đồng) Dự toán năm 2007 (triệu đồng) Dự toán năm 2008 (triệu đồng)
I Tổng thu trên địa bàn 19.430 24.040 27.110
1 Thu thuế ngoài quốc doanh 1.800 2.400 3.300
- Thuế môn bài 300 342 350
- Thuế giá trị gia tăng 925 1.315 2.010
- Thuế thu nhập doanh nghiệp 570 733 880
- Thuế tài nguyên 0 0 50
- Thu khác 5 10 10
2 Thuế trước bạ 170 1.400 1.500
3 Thuế sử dụng đất nông nghiệp 110 100 120
4 Thuế nhà đất 1.200 1.400 900
5 Thu tiền sử dụng đất 12.000 15.000 17.000
6 Thuế chuyển quyền sử dụng đất 200 250 370
7 Thu tiền thuê đất 160 220 850
8 Thu phí, lệ phí 300 320 0
9 Thu khác ngân sách 100 150 900
10 Thu khác tại xã 3.390 2.800 17.000

Nguồn: Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Tứ Kỳ – Tỉnh Hải Dương

Dữ liệu cho thấy các khoản thu liên quan đến đất đai (tiền sử dụng đất, thuế nhà đất, thuê đất) chiếm tỷ trọng áp đảo, từ 80% đến 90% tổng thu ngân sách huyện. Riêng khoản thu tiền sử dụng đất chiếm vị trí lớn nhất, tăng từ 12.000 triệu đồng (2006) lên 17.000 triệu đồng (2008).

Về thực trạng quản lý chi ngân sách, tổng chi ngân sách huyện tăng mạnh theo quy mô phát triển và chính sách điều chỉnh mức lương tối thiểu (từ 450.000 đồng/tháng lên 540.000 đồng/tháng, làm phát sinh thêm 16 triệu đồng dự toán chi lương):

STT Nội dung chi Dự toán năm 2006 (triệu đồng) Năm 2007 (Quân số: 201) (triệu đồng) Năm 2008 (Quân số: 332) (triệu đồng)
I Tổng chi ngân sách huyện 8.449 10.319 74.248
1 Chi sự nghiệp kinh tế 1.584 1.900 2.213
- Chi sự nghiệp giao thông 662 747 1.061
- Chi sự nghiệp nông nghiệp 275 467 398
- Chi sự nghiệp chống lụt bão 128 146 146
- Chi vệ sinh môi trường 30 30 30
- Chi quy hoạch dự án 75 90 90
2 Sự nghiệp văn hóa thông tin 271 392 409
3 Sự nghiệp phát thanh truyền hình 256 410 519
4 Sự nghiệp thể dục thể thao 116 194 230
5 Sự nghiệp đảm bảo xã hội 939 1.049 1.049
6 Quản lý nhà nước và HĐND 2.024 2.869 3.537
7 Kinh phí Đảng và chi hoạt động khác 978 211,2 61.955
8 Đoàn thể 642 158 829
9 Mua sắm sửa chữa (MSSC) cho Huyện ủy, UBND 500 420 420
10 An ninh 105 105 156
11 Quốc phòng địa phương 381 451 594
12 Chi khác ngân sách 55 55 55
13 Chi chương trình môi trường địa phương 350 30 30
14 Dự phòng ngân sách 248 302 1.457
15 Tiết kiệm 10% chi thường xuyên 161 186,8 -526

Nguồn: Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Tứ Kỳ – Tỉnh Hải Dương

Chi ngân sách cho sự nghiệp giáo dục chiếm vị trí trọng yếu trong cơ cấu chi thường xuyên của huyện Tứ Kỳ:

  • Năm 2007: Tổng mức kinh phí được chi cho giáo dục đạt 40.592.654 nghìn đồng (trong đó thu học phí đạt 2.673.845 nghìn đồng, ngân sách đảm bảo 38.271.546 nghìn đồng, tiết kiệm 10% là 328.614 nghìn đồng). Khối tiểu học được phân bổ 15.883.649 nghìn đồng, khối mầm non 3.547.000 nghìn đồng, Phòng Giáo dục 856.261 nghìn đồng.
  • Năm 2008: Tổng mức kinh phí được chi cho giáo dục tăng lên 52.172.468 nghìn đồng (ngân sách đảm bảo 49.930.000 nghìn đồng, nguồn thu học phí 2.209.468 nghìn đồng, trừ tiết kiệm 10% là 355.940 nghìn đồng). Khối THCS chiếm 24.518.480 nghìn đồng, khối tiểu học chiếm 21.203.553 nghìn đồng, khối mầm non chiếm 4.287.056 nghìn đồng, Phòng Giáo dục chiếm 413.379 nghìn đồng.

Tác giả đánh giá kết quả thực hiện: Các cơ quan tài chính huyện đã bám sát Luật Ngân sách nhà nước, bảo đảm thu đúng, thu đủ; giao dự toán phấn đấu cao hơn 5% so với mức cấp trên giao; thực hiện trích 40% nguồn thu được để lại và 10% tiết kiệm chi thường xuyên để tạo nguồn cải cách tiền lương. Tuy nhiên, vẫn còn những tồn tại: Tỷ lệ phân chia nguồn thu giữa các cấp ngân sách chưa thật hợp lý; thời gian giao dự toán còn chồng chéo; công tác đo đạc, lập cơ sở dữ liệu địa chính chưa đồng bộ; thu nghĩa vụ công ích suy giảm; một số khoản chi quản lý còn mang tính bột phát, chưa bảo đảm triệt để tính tiết kiệm.

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện quản lí ngân sách huyện Tứ Kỳ – Tỉnh Hải Dương

Chương 3 đề xuất định hướng và các giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính - ngân sách gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội địa phương:

  • Phương hướng phát triển kinh tế - xã hội: Duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 8,5%/năm trở lên; giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên xuống dưới 1%; phấn đấu đến năm 2010 có trên 80% hộ dân được sử dụng nước hợp vệ sinh. Đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo mô hình VAC, phát triển nuôi trồng thủy sản; xây dựng khu công nghiệp tập trung mây tre đan, may mặc để giải quyết việc làm tại chỗ. Nâng cấp mạng lưới giao thông đường bộ (tuyến 191 thành đường 192/391 kết nối Quốc lộ 5A và cao tốc 5B), khơi thông luồng tuyến giao thông thủy và hiện đại hóa mạng lưới bưu điện - viễn thông.
  • Giải pháp hoàn thiện thu - chi ngân sách: Thực hiện nghiêm Luật Ngân sách nhà nước và các luật thuế; tăng cường quản lý nguồn thu từ đất đai thông qua đấu giá quyền sử dụng đất công khai; rà soát chống thất thu thuế ngoài quốc doanh; loại bỏ các khoản thu phí, lệ phí trái quy định theo tinh thần Chỉ thị 24/2007/CT-TTg. Về chi ngân sách, thực hiện nghiêm định mức khoán chi, kiên quyết cắt giảm các khoản chi sai nguyên tắc; tiết kiệm 10% chi thường xuyên; ưu tiên vốn đối ứng cho các dự án ODA và các công trình giao thông, trạm bơm tưới tiêu thủy lợi phục vụ nông nghiệp; tăng cường kiểm soát chi qua Kho bạc Nhà nước.
  • Giải pháp về tổ chức bộ máy và cán bộ: Đẩy mạnh cải cách hành chính theo Quyết định số 94/2006/QĐ-TTg; nâng cao trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức cho cán bộ tài chính, kế toán xã, thị trấn; thực hiện công khai, minh bạch ngân sách theo quy chế dân chủ ở cơ sở ("dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra"); xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm, tham nhũng gây thất thoát ngân sách.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa dữ liệu ngân sách địa phương: Công trình cung cấp chuỗi số liệu toàn diện về dự toán thu và chi ngân sách huyện Tứ Kỳ giai đoạn 2006 – 2008, chi tiết đến từng sắc thuế và từng lĩnh vực chi (sự nghiệp kinh tế, giáo dục, y tế, văn hóa, quản lý nhà nước, an ninh, quốc phòng).
  • Chỉ rõ đặc thù cơ cấu ngân sách cấp huyện: Phân tích thực chứng chứng minh nguồn thu ngân sách huyện Tứ Kỳ phụ thuộc chủ yếu vào các khoản thu từ đất (chiếm 80% – 90% tổng thu trên địa bàn), trong đó thu tiền sử dụng đất tăng từ 12 tỷ đồng (2006) lên 17 tỷ đồng (2008). Đồng thời, phản ánh cụ thể cơ cấu chi giáo dục chiếm tỷ trọng lớn nhất trong chi thường xuyên (vượt 40,5 tỷ đồng năm 2007 và 52,1 tỷ đồng năm 2008).
  • Đề xuất giải pháp bám sát thực tiễn: Hệ thống giải pháp được xây dựng đồng bộ từ phát triển cơ sở kinh tế (chuyển đổi VAC, phát triển cụm công nghiệp may mặc, mây tre đan, nâng cấp hạ tầng đường 191/391) đến các biện pháp nghiệp vụ tài chính (tiết kiệm 10% chi thường xuyên, trích 40% tạo nguồn cải cách tiền lương, kiểm soát thanh toán qua Kho bạc).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi dữ liệu phân tích tập trung chủ yếu vào số liệu dự toán giai đoạn 2006 – 2008; một số chỉ tiêu thực thu - thực chi và số liệu quyết toán chi tiết của từng xã chưa được phản ánh đầy đủ trong văn bản.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá tác động dài hạn của Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 đối với tính tự chủ tài chính của chính quyền cấp xã; phân tích chuyên sâu hiệu quả sử dụng nguồn thu từ đấu giá quyền sử dụng đất trong việc tái đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn mới.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tư liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên các ngành Tài chính - Ngân hàng, Tài chính công, Quản lý kinh tế và Quản lý hành chính nhà nước khi nghiên cứu về đề tài quản lý ngân sách cấp huyện. Đồng thời, hệ thống bảng biểu tổng hợp về dự toán thu chi và quy trình phân bổ ngân sách trong chuyên đề có giá trị thực tiễn đối với cán bộ phụ trách công tác tài chính - kế hoạch tại các cơ quan chính quyền địa phương cấp huyện, xã.


Câu hỏi thường gặp

1. Nguồn thu nào chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu thu ngân sách huyện Tứ Kỳ giai đoạn 2006 – 2008? Các khoản thu liên quan đến đất đai (gồm thu tiền sử dụng đất, thuế nhà đất, thuế sử dụng đất nông nghiệp, thu tiền thuê đất) chiếm tỷ trọng áp đảo từ 80% đến 90% tổng thu ngân sách huyện. Trong đó, thu tiền sử dụng đất là khoản mục lớn nhất, đạt 12.000 triệu đồng (2006), 15.000 triệu đồng (2007) và 17.000 triệu đồng (2008).

2. Chi ngân sách cho sự nghiệp giáo dục huyện Tứ Kỳ trong các năm 2007 và 2008 được ghi nhận ở mức nào? Chi cho giáo dục chiếm tỷ trọng cao trong chi thường xuyên (từ 35% đến 40%). Tổng mức kinh phí được chi cho giáo dục năm 2007 là 40.592.654 nghìn đồng và năm 2008 tăng lên 52.172.468 nghìn đồng, phân bổ cho các khối mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và các hoạt động nghiệp vụ của Phòng Giáo dục.

3. Việc điều chỉnh mức lương tối thiểu tác động như thế nào đến dự toán ngân sách của địa phương? Khi mức lương tối thiểu được điều chỉnh tăng từ 450.000 đồng/tháng lên 540.000 đồng/tháng, dự toán chi cải cách tiền lương của huyện phát sinh thêm 16 triệu đồng cho đội ngũ cán bộ công chức. Huyện thực hiện tạo nguồn kinh phí chi trả từ 50% nguồn tăng thu ngân sách, 10% tiết kiệm chi thường xuyên và 40% số thu được để lại theo chế độ.

4. Tác giả đề ra những chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu nào cho huyện Tứ Kỳ? Các chỉ tiêu chính gồm: Phấn đấu tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt từ 8,5%/năm trở lên; giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên xuống dưới 1%; đến năm 2010 có trên 80% số hộ gia đình được sử dụng nước hợp vệ sinh; phát triển các mô hình kinh tế trang trại VAC/VAT; mở rộng các khu công nghiệp tập trung về may mặc và mây tre đan.


Kết luận

Chuyên đề thực tập đã phản ánh chi tiết bức tranh quản lý ngân sách nhà nước tại huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương trong giai đoạn 2006 – 2008 thông qua hệ thống số liệu dự toán thu, chi cụ thể. Tác giả đã kết hợp chặt chẽ giữa lý luận quản lý tài chính công với thực tiễn phân cấp ngân sách tại địa phương, chỉ rõ sự phụ thuộc lớn vào nguồn thu từ đất đai và áp lực chi thường xuyên cho giáo dục, cải cách tiền lương. Các giải pháp được đề xuất mang tính hệ thống, gắn kết giữa phát triển kinh tế cơ sở với siết chặt kỷ cương quản lý tài chính, góp phần nâng cao hiệu quả điều hành ngân sách cấp huyện.