Phần mở đầu: giới thiệu chung về đề tài, trong đó nêu các cơ sở để triển khai và khẳng định tính nghiêm túc của tác giả trong qúa trình thực hiện - Phần nội dung chính gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ quan nhà nƣớc cấp huyện và thành phần, nội dung, giá trị tài liệu lƣu trữ hình thành trong hoạt động của hệ thống cơ quan này Trong chƣơng này chúng tôi trình bày hệ thống các cơ quan nhà nƣớc cấp huyện; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cũng nhƣ thành phần, nội dung, giá trị tài liệu lƣu trữ của hệ thống cơ quan này Chƣơng 2. Thực trạng tổ chức và quản lý nhà nƣớc về lƣu trữ ở cấp huyện hiện nay Với những thông tin thu thập đƣợc qua việc khảo sát tại một số khu vực nhƣ đã nêu ở trên, chúng tôi phản ảnh, đánh giá thực trạng tổ chức và quản lý nhà nƣớc về lƣu trữ huyện hiện nay ở các khía cạnh nhƣ: tổ chức bộ máy lƣu trữ; công tác cán bộ lƣu trữ; tổ chức thực hiện các văn bản về công tác lƣu trữ; quản lý thống nhất chuyên môn, nghiệp vụ lƣu trữ; quản lý thống nhất tài liệu lƣu trữ; bố trí cơ sở vật chất; đào tạo, bồi dƣỡng chuyên môn nghiệp vụ công tác lƣu trữ; mối quan hệ giữa lƣu trữ cấp huyện và lƣu trữ cấp xã trong giai đoạn hiện nay. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc tổ chức và quản lý nhà nƣớc về lƣu trữ cấp huyện Trên cơ sở thực trạng nhƣ đã phân tích ở chƣơng 2, từ đó chúng tôi chỉ ra những hạn chế, nguyên nhân của vấn đề và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc tổ chức và quản lý nhà nƣớc về lƣu trữ cấp huyện.
Phần 3: Kết luận 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phần này là tổng kết của tác giả về qúa trình thực hiện và kết quả triển khai đề tài đồng thời, đề xuất một số nội dung có liên quan đến đề tài cần đƣợc tiếp tục nghiên cứu trong các công trình tiếp theo. Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả cũng nhận đƣợc sự đồng tình ủng hộ và sự giúp đỡ, cộng tác các cán bộ, công chức, viên chức đang công tác trong ngành lƣu trữ từ Cục Văn thƣ và Lƣu trữ Nhà nƣớc đến cán bộ, công chức, viên chức lƣu trữ tại các huyện; lãnh đạo các Phòng Nội vụ, Văn phòng mà tác giả đến thực tế khảo sát; thầy, cô Khoa Lƣu trữ học và Quản trị văn phòng, các bạn đồng nghiệp. Đặc biệt là sự giúp đỡ, hƣớng dẫn, chỉ bảo tận tình của NGƢT.Vƣơng Đình Quyền. Qua đây cho phép tác giả gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc đến sự giúp đỡ quý báu đó.
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi cũng gặp không ít khó khăn về địa bàn khảo sát rộng, đề tài chƣa có nhiều nghiên cứu, tài liệu tham khảo và những biến động về tổ chức lƣu trữ cấp huyện. Hơn nữa việc khảo sát và tìm hiểu thực tế tại các huyện đặc biệt là việc gặp gỡ trực tiếp lãnh đạo Phòng nội vụ, Văn phòng UBND huyện để trao đổi rất khó khăn. Do vậy luận văn không tránh khỏi những hạn chế nhất định. Tác giả mong nhận đƣợc sự chỉ bảo, đóng góp ý kiến của các nhà nghiên cứu, các bạn đồng nghiệp để luận văn đƣợc hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày tháng 12 năm 2014 Học viên Trần Văn Quang 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG CHÍNH CHƢƠNG 1. CƠ QUAN NHÀ NƢỚC CẤP HUYỆN VÀ THÀNH PHẦN, NỘI DUNG, GIÁ TRỊ TÀI LIỆU LƢU TRỮ HÌNH THÀNH TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG CƠ QUAN NÀY 1. Giới thiệu khái quát về lịch sử đơn vị hành chính cấp huyện Huyện là đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh, đã hàng nghìn năm tồn tại ở nƣớc ta. Nhìn tổng thể, trong thời kỳ phong kiến, đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh ( đạo, lộ, trấn) đƣợc chia thành các cấp phủ, huyện, châu.
Phủ đƣợc đặt ở đồng bằng và trung du, là cấp hành chính trung gian giữa tỉnh và huyện. Mỗi phủ gồm một số huyện, dƣới huyện là tổng, dƣới tổng là xã. Tổng đƣợc đặt dƣới thời vua Minh Mạng, là cấp hành chính trung gian giữa huyện và xã. Châu là đơn vị hành chính tƣơng đƣơng với huyện đƣợc đặt ở miền núi.
Đứng đầu phủ, huyện, châu có tri phủ, tri huyện và tri châu. Đây là cấp hành chính chịu sự kiểm soát và chi phối chặt chẽ của chính quyền cấp tỉnh (đạo, lộ, trấn). Sau khi xâm lƣợc nƣớc ta, thực hiện chính sách “chia để trị’’ thực dân Pháp đã chia vùng Đông Dƣơng làm 5 xứ, trong đó Việt Nam đƣợc tách thành 3 kỳ, dƣới kỳ là các tỉnh, dƣới cấp tỉnh là cấp huyện, dƣới cấp huyện là cấp xã. Quản lý cấp xã là các “Hội đồng tộc biểu’’ và “Hội đồng kỳ mục’’1, sau đó hai hội đồng này bị đồng nhất với nhau.
Hội đồng này đã lựa chọn ngƣời giữ chức lý trƣởng, phó lý và các trƣơng tuần để điều hành mọi việc trong xã, trong thôn. Sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Nhà nƣớc Việt Nam mới đã chú trọng xây dựng chính quyền địa phƣơng, ngày 9/11/1946 tại 1 Theo Vũ Thị Phụng: Giáo trình Lịch sử Nhà nƣớc và Pháp luật Việt Nam, NXB ĐHQGHN, năm 1997, trang 175,176 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa I đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Theo điều 57, Hiến pháp 1946, lãnh thổ nƣớc ta chia thành bộ: Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ. Mỗi bộ chia thành tỉnh; mỗi tỉnh chia thành huyện; mỗi huyện chia thành xã.
Điều 58, Hiến pháp 1946 đã khảng định: Mỗi tỉnh, thành phố, thi xã và xã có Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính. Riêng ở bộ và huyện, chỉ có ủy ban hành chính, trong đó ủy ban hành chính bộ do Hội đồng các tỉnh và thành phố bầu ra, còn Ủy ban hành chính huyện do Hội đồng các xã bầu ra [39;21] Sau khi Hiến pháp 1946 có hiệu lực, mặc dù có một vài thay đổi trong thời gian đầu khi mới bắt đầu hoạt động, nhƣng cấp huyện đƣợc xác định là một cấp hành chính trung gian giữa tỉnh và xã. Việc chia tách và sáp nhập các đơn vị hành chính ở Việt Nam đƣợc diễn ra nhiều lần do hoàn cảnh chiến tranh và sự thay đổi trong quy định của các bản Hiến pháp từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 1992, Hiến pháp 2013. Sự thay đổi này chủ yếu diễn ra ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng, còn cấp huyện từ khi đƣợc quy định trong Hiến pháp 1946 đến nay về cơ bản không thay đổi vị trí pháp lý.
Khi Hiến pháp 2013 đƣợc ban hành, các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc trung ƣơng vẫn đƣợc là đơn vị hành chính cấp trung gian giữa cấp tỉnh và cấp xã. Quận, huyện đều là đơn vị hành chính có vị trí pháp lý nhƣ nhau, nhƣng quận là đơn vị hành chính trong nội thành của các thành phố trực thuộc trung ƣơng; huyện là đơn vị hành chính của tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng. Tƣơng đƣơng với quận, huyện còn có các thị xã và các thành phố trực thuộc tỉnh. Quận và thành phố thuộc tỉnh có tính chất đặc trƣng của đô thị, huyện có đặc trƣng của nông thôn; thị xã là tên gọi của cấp hành chính tƣơng đƣơng quận, huyện nhƣng có tính chất của vùng nông thôn bán đô thị.
Các thành phố và thị xã trực thuộc tỉnh thƣờng là trung tâm hành chính của tỉnh nên trong một tỉnh thƣờng chỉ có thành phố hoặc thị xã, còn quận là đơn vị hành chính trong nội thành, một thành phố có thể gồm nhiều quận. Vì thế, cấp huyện là 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khái niệm mà chúng tôi sử dụng kể từ đây là để gọi chung cho các quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc các tỉnh, thành phố đến khảo sát. Với vị trí là một đơn vị hành chính cấp trung gian, cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đƣợc thiết lập bộ máy nhà nƣớc với đầy đủ ba hệ thống cơ quan: cơ quan quyền lực nhà nƣớc, cơ quan hành chính - hành pháp và và cơ quan tƣ pháp. Bên cạnh các cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc thì nhiều cơ quan khác cũng đƣợc thiết lập ở cấp huyện phối hợp với bộ máy nhà nƣớc trong việc quản lý và thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội trên địa bàn.
Tổ chức và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nƣớc cấp huyện Bộ máy nhà nƣớc ở địa phƣơng đƣợc thiết lập ở các cấp hành chính lãnh thổ: cấp tỉnh, huyện, xã. Các cơ quan này đƣợc thiết lập để quản lý địa phƣơng bảo đảm thực hiện thống nhất có hiệu quả Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nƣớc cấp trên trên địa bàn lãnh thổ. Căn cứ vào việc tổ chức bộ máy hành chính theo lãnh thổ, bộ máy nhà nƣớc cấp huyện bao gồm các cơ quan: 1. Hội đồng nhân dân huyện Cơ quan quyền lực nhà nƣớc là HĐND huyện “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên’’ [48;5] Với vị trí pháp lý là cơ quan quyền lực nhà nƣớc ở địa phƣơng, HĐND huyện thực hiện hai chức năng cơ bản: Một là, Hội đồng nhân dân quyết định những chủ trƣơng, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phƣơng, xây dựng và phát triển địa phƣơng về kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phƣơng, làm tròn nghĩa vụ của địa phƣơng đối với cả nƣớc.
14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hai là, Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thƣờng trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nƣớc, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phƣơng. Về nhiệm vụ và quyền hạn của HĐND huyện đƣợc quy định thống nhất tại các điều từ điều 19 đến điều 25 của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003.