Chương 1: Cơ sở lý luận về QL hoạt động khảo sát việc làm của SVSTN tại các trường đại học theo tinh thần khởi nghiệp Chương 2: Thực trạng QL hoạt động khảo sát việc làm của SVSTN tại Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN theo tinh thần khởi nghiệp. Chương 3: Biện pháp QL hoạt động khảo sát việc làm của SVSTN tại Trường Đại học Kinh tế - ĐHQGHN theo tinh thần khởi nghiệp. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KHẢO SÁT VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN SAU TỐT NGHIỆP TẠI CÁC TRƢỜNG ĐẠI HỌC THEO TINH THẦN KHỞI NGHIỆP 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.
Nghiên cứu về hoạt động khảo sát việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp trong các trường đại học trong và ngoài nước Nguồn nhân lực là yếu tố then chốt để phát triển kinh tế- xã hội của mọi quốc gia. Vì vậy, nghiên cứu về lĩnh vực việc làm để tìm ra những giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một chủ đề thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học trên thế giới. Và để khẳng định vị thế của một trường đại học thì một trong những yếu tố quan trọng đó là mức độ thành công của sinh viên sau khi tốt nghiệp. Do vậy, khảo sát việc làm của SVSTN (sinh viên sau tốt nghiệp) có ý nghĩa vô cùng quan trọng.
Kết quả khảo sát hoạt động này đã được một số nghiên cứu quan tâm, trong phạm vi, luận văn kể đến một số công trình sau: Nghiên cứu ở nước ngoài: Dựa trên thống kê về những kỹ năng được yêu cầu từ sinh viên mới tốt nghiệp được thực hiện bởi những nhà tuyển dụng nhân lực ở các công ty/tập đoàn lớn hàng đầu Mĩ như: Microsoft, Target jobs, BBC, Propects, NACE và AGR và nhiều tổ chức khác, bài viết “Mười kỹ năng hàng đầu mà nhà tuyển dụng muốn là gì?” (What are the top ten skills that employers want?) trên trang web của đại học Kent đã đưa ra 10 kỹ năng được đánh giá cao nhất ở sinh viên mới ra trường ở tất cả các khối ngành như sau [56]: Đứng đầu trong top 10 các kỹ năng này là kỹ năng diễn đạt ý tưởng; tiếp theo đó là kỹ năng làm việc nhóm và khả năng nhìn nhận và đánh giá tính thương mại, khả năng phân tích và nghiên cứu; theo sau đó là những kỹ năng: tự đưa ra sáng kiến và giải pháp, vận hành ổn định công việc, giao tiếp qua văn bản, lập kế hoạch và tổ chức, khả năng linh hoạt phù hợp với hoàn cảnh và cuối cùng là kỹ năng quản lý thời gian. Bên cạnh đó bài viết này cũng đưa ra những kỹ 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năng quan trọng khác như: kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng đàm phán và thuyết phục, kỹ năng máy tính, tự nhận thức bản thân, tự học, tự lập, khả năng đưa ra quyết định…Dưới sự tổng kết của những trang web có uy tín trên, những kỹ năng này có thể coi là những kỹ năng tổng hợp nhất, tiêu biểu và chung nhất mà các ứng viên cần có để đáp ứng bất cứ một loại công việc nào. Một bài viết khác có tên: “Nhà tuyển dụng nên biết gì về tuyển dụng sinh viên quốc tế” (What employers should know about hiring international students) [57] đăng trên trang web của đại học Pittsburgh nói về mối quan tâm của những nhà tuyển dụng đối với sinh viên quốc tế. Bài viết cung cấp những thông tin về quy định làm thêm cho sinh viên quốc tế lao động tại Mỹ.
Cũng theo đó, sinh viên có thể làm những công việc có liên quan tới chuyên ngành học tập của mình để củng cố và trau dồi kiến thức cũng như khả năng thực hành trong thực tiễn, hoặc thậm chí sinh viên có thể làm nhiều các công việc khác miễn là có khả năng và đáp ứng được những yêu cầu về thời gian lưu trú. Các sinh viên cần phải trải qua quá trình phỏng vấn và sẽ được nhận vào làm việc nếu đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng. Đây cũng là cơ hội để mỗi sinh viên thử thách và tập làm quen với quá trình thi tuyển/xin tuyển dụng ở các cơ quan/công ty/tổ chức sau này. Bài nghiên cứu “Expectations on capacity: Nonconformity between employers and graduates - Perspectives on end-user computing skill requirements at work” [54, tr.34] - nghiên cứu của Shirley Gibbs và Gary Steel, Trường Đại học Lincoln, New Zealand về sự mong đợi của người sử dụng lao động đối với kỹ năng sử dụng máy tính – một kỹ năng quan trọng và cần thiết ở ứng viên tuyển dụng của một số ngành.
Nghiên cứu này nêu bật ý nghĩa đối với ba nhóm: nhà tuyển dụng, sinh viên tốt nghiệp, và các nhà giáo dục. Nghiên cứu này cũng đã đưa ra một số khuyến nghị đối với 3 nhóm này như sau. (1) Nhà tuyển dụng lao động được khuyến khích: thay đổi nhận định của họ về trình độ tin học của các sinh viên tốt nghiệp, trao đổi rõ ràng những yêu cầu của họ đối với những người mới tốt nghiệp này và trao đổi với các nhà cung cấp giáo dục đại học về những yêu cầu tại nơi làm việc. (2) Sinh viên tốt nghiệp được khuyến khích: tự nhận thức của về các kỹ năng máy tính mà nơi 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tuyển dụng yêu cầu và thận trọng hơn khi đánh giá kỹ năng máy tính của mình.
(3) Các nhà cung cấp giáo dục được khuyến khích: Thay đổi hồ sơ để phù hợp với những sinh viên tốt nghiệp, trao đổi với người sử dụng lao động về những vấn đề liên quan đến những kỹ năng cần thiết của sinh viên mới tốt nghiệp và không nên ngạc nhiên nếu sinh viên mới tốt nghiệp không đáp ứng được những yêu cầu cần thiết. Nghiên cứu trong nước: Trong bài viết “Công tác đào tạo cử nhân Tâm lý học với đáp ứng yêu cầu xã hội ở Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội” [35 , 123 - 125] tác giả Nguyễn Hồi Loan đã có những nghiên cứu về vấn đề đáp ứng nhu cầu xã hội của các cử nhân mới ra trường. Bài viết đã đưa ra số liệu sinh viên tìm đc việc làm có liên quan đến ngành nghề đào tạo ngay sau 1 năm ra trường là 31.4%, số sinh viên chưa tìm được việc làm là 2. Như vậy có thể thấy rằng số cử nhân mỗi năm tốt nghiệp chưa đáp ứng nổi yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao và kéo theo hậu quả là làm tốn kém tiền bạc, công sức của cả người học và người dạy trong 4 năm đại học.
Tác giả cũng đã đưa ra kết luận tại một hội thảo của nhà trường cùng với Hội các nhà quản trị Doanh nghiệp Việt Nam – đơn vị đào tạo và sử dụng sản phẩm đào tạo của trường là: sinh viên của trường phải đào tạo từ 6 tháng đến 1 năm trước khi có thể chính thức làm việc. Trong quá trình huấn luyện và đào tạo lại, các sinh viên phải bổ sung và điều chỉnh kiến thức không chỉ về chuyên môn nghiệp vụ mà còn về cả thái độ và kỹ năng làm việc, nhận thức về trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động cũng như đạo đức, kỷ luật, kỹ năng giải quyết vấn đề thực tiễn. Thực tế đó đã cho thấy phương thức đào tạo của trường so với yêu cầu của thị trường lao động còn có độ chênh nhất định, chưa đáp ứng kịp thời và phù hợp với yêu cầu của nhà tuyển dụng, dẫn tới cả 3 bên: cơ sở đào tạo, sinh viên và nhà tuyển dụng đều chịu những sức ép và trở ngại nhất định. Bài viết với nhan đề “Nhiều sinh viên ra trường không tìm được việc làm: Vì sao và tại ai?” [21, tr.10 - 11] của tác giả Thanh Hà trong buổi tọa đàm “Giải pháp gắn kết giữa đào tạo với thị trường lao động ở Việt Nam” của Trường Đại học Khoa 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội tổ chức vào ngày 09/12/2011.
Đây là hoạt động nằm trong dự án hợp tác “Cải cách chính sách giáo dục ở Việt Nam” giữa Trường ĐHKHXH&NV với Quỹ Rosa Luxemburg, Cộng hòa Liên bang Đức. Bài viết đã đưa ra con số về tình hình việc làm sau tốt nghiệp của sinh viên như sau: Với cỡ mẫu gồm 3000 sinh viên đã tốt nghiệp thì có 73% sinh viên đã tìm được việc làm nhưng có tới 58,2% sinh viên không biết xin việc ở đâu, 42% không đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng, 27% không xin được việc do ngành học không phù hợp với nhu cầu thị trường hay thậm chí có 18% sinh viên không tìm được việc do nhà tuyển dụng không biết tới ngành đào tạo. Đặc biệt, theo tác giả những khó khăn lớn nhất gặp phải khi đi xin việc của sinh viên thường là: không biết tìm việc ở đâu, không có được việc do thiếu kỹ năng nhà tuyển dụng yêu cầu, nhà tuyển dụng không hiểu về chuyên ngành của sinh viên hoặc không có nhu cầu về nhân sự thuộc chuyên ngành đó. Đây là một thực trạng cho thấy việc đào tạo hiện nay còn chưa bám sát thực tiễn; nhiều ngành thừa nhân lực trong khi nhiều ngành thiếu trầm trọng hoặc đào tạo ra sinh viên chưa đáp ứng hoặc đáp ứng sai nhu cầu của thị trường do đó dẫn đến tình trạng sinh viên không tìm được việc làm hoặc không hài lòng với công việc hiện tại do làm trái ngành nghề được đào tạo.
Tác giả Vũ Dũng với cuốn sách mang tên “Việc làm, thu nhập của thanh niên hiện nay – Nhìn từ góc độ tâm lý học” (2012) [15, 12 - 15]. Nội dung cuốn sách đưa ra một số vấn đề lý luận và thực tiễn về việc làm và thu nhập của thanh niên. Trình bày những khía cạnh tâm lý của việc làm, thu nhập của thanh niên nước ta hiện nay. Một số đề xuất và giải pháp giải quyết vấn đề việc làm và thu nhập của thanh niên.
Tác giả Trần Đình Hoan, Lê Mạnh Khoa với tác phẩm mang tên “Sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm ở Việt Nam” (1991), [22, 24 - 26]. Tác phẩm đã nêu bật vai trò và tiềm năng nguồn lao động trong phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Từ đó, đề cập tới hiện trạng lao động và việc làm hiện nay ở nước ta đồng thời nêu lên phương hướng chủ yếu sử dụng nguồn lao động và giải quyết việc làm có hiệu quả ở Việt Nam. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.