Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TRUNG TÂM VĂN HÓA THÔNG TIN VÀ THỂ THAO QUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Những vấn đề chung về quản lý hoạt động của Trung tâm VHTT&TT 1. Một số khái niệm 1. Quản lý Thuật ngữ Quản lý được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề, và các công trình nghiên cứu khác nhau.
Quản lý là hoạt động tất yếu khách quan của mọi quá trình hoạt động xã hội. Trong hoạt động quản lý, phải có chủ thể quản lý và ít nhất một đối tượng quản lý, gián tiếp hay trực tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý. Hoạt động quản lý là một quá trình bao gồm nhiều hành động khác nhau, có tính liên tục để đạt được kết quả mà chủ thể đặt ra mục tiêu cần hướng tới. Để tồn tại và phát triển, quản lý cần thiết đối với mọi phạm vi hoạt động của xã hội.
Chính vì vậy mà theo những cách tiếp cận khác nhau đó quản lý cũng được các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau: Có nhiều cách tiếp cận nghiên cứu về hoạt động quản lý, chúng ta có thể hiểu khái niệm về hoạt động quản lý như sau: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động” [27, tr. Muốn “tác động liên tục, có tổ chức, có chủ đích”, người làm quản lý phải thực hiện hoạt động quản lý gồm 4 khâu quan trọng là: Lập kế hoạch, tổ chức, bố trí nhân lực cho phù hợp với thực tiễn; kiểm tra, kiểm soát, đánh giá việc thực hiện kế hoạch. Hoạt động quản lý được thể hiện trong 5 10 thành tố sau: Chủ thể quản lý, khách thể quản lý, mục đích quản lý, công cụ quản lý, cách thức quản lý [38, tr. Qua định nghĩa quản lý ta thấy, yếu tố cốt lõi của quản lý: 1) Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định; 2) Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận: chủ thể quản lý (là cá nhân hoặc tổ chức làm nhiệm vụ quản lý, điều khiển) và đối tượng quản lý (là bộ phận chịu sự quản lý), đây là quan hệ ra lệnh - phục tùng, không đồng cấp và có tính bắt buộc, có cấp trên, cấp dưới; 3) Quản lý bao giờ cũng là quản lý con người và tổ chức; 4) Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan, nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan và đạt được mục tiêu mà nhà quản lý đề ra.
Hiện nay, khái niệm quản lý đã trở nên phổ biến, nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất, vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau. Qua phân tích trên, theo tác giả, quản lý là sự tác động có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu mà nhà quản lý đề ra. Quản lý hoạt động văn hóa Hiện có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý văn hóa. Có thể hiểu: Quản lý về văn hóa được hiểu là công việc của Nhà nước, được thực hiện thông qua việc ban hành quy chế, chính sách, tổ chức triển khai, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản QPPL trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế, xã hội của từng địa phương và cả nước.
Nhìn vào thực tiễn, không khó để nhận thấy, quản lý văn hóa còn được hiểu là sự tác động chủ quan bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể, các cơ cấu dân sự, các cá nhân được trao quyền và trách nhiệm quản lý) đối với khách thể quản lý (mọi thành phần/thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa) nhằm đạt được mục tiêu mong muốn (bảo đảm văn hóa là nền tảng tinh 11 thần của xã hội, nâng cao vị thế quốc gia, cải thiện chất lượng sống của người dân…). Hoạt động văn hóa thực chất là những hoạt động sáng tạo, bảo quản, phân phối và sử dụng (khai thác) các giá trị văn hóa nhằm mục đích làm nền tảng tinh thần cho sự phát triển xã hội. Quản lý hoạt động văn hóa chính là quản lý “những quá trình thực hành của cá nhân và các thiết bị xã hội trong việc sản xuất, bảo quản, phân phối giao lưu và tiêu dùng những giá trị văn hóa tinh thần, nhằm giao lưu những tư tưởng, ý nghĩa và những tác phẩm văn hóa của con người sinh ra và cũng chính là để hoàn thiện chất lượng sống của con người trong xã hội”. Trong cuốn Quản lý hoạt động văn hóa của tập thể tác giả, tác giả Hoàng Sơn Cường đưa ra khái niệm quản lý văn hóa như sau: “Quản lý văn hóa là sự định hướng, tạo điều kiện, tổ chức điều hành cho văn hóa phát triển không ngừng theo hướng có ích cho con người, giúp cho xã hội loài người không ngừng đi lên” [31].
Trong cuốn Quản lý di sản văn hóa với phát triển Du lịch, các tác giả đã đưa ra khái niệm: “Quản lý văn hóa là quá trình xây dựng đường lối chính sách và tổ chức hoạt động nhằm bảo tồn và phát huy tốt nhất giá trị của văn hóa Việt Nam đồng thời tiếp thu những tinh hoa của văn nhân loại, làm giàu cho văn hóa dân tộc” [36, tr. Từ khái niệm đó, ta có thể xác định được một số đặc điểm của quản lý văn hóa, đó là: khái niệm văn hóa rộng, đa nghĩa nên quản lý văn hóa không chỉ quản lý các vật hữu hình mà còn quản lý những cái vô hình như tình cảm xã hội, tư tưởng con người; trong định hướng chung của Nhà nước các thành phần văn hóa là tư nhập, tập thể, đoàn thể, xã hội hay quốc gia đều phải hoạt động theo một chuẩn mực thống nhất trên cơ sở pháp luật chung, thông qua các chính sách văn hóa xã hội; giá trị hoạt động văn hóa chủ yếu vào tính sáng tạo, giúp con người vươn lên trước những đòi hỏi của xã hội; quản lý văn 12 hóa không được dựa vào lối tư duy cứng nhắc dập khuôn mà phải dựa trên hoàn cảnh cụ thể; quản lý văn hóa không thể là sự chuyển dịch của mô hình quản lý kinh tế - xã hội. Khái niệm thiết chế văn hóa Là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong ngành Văn hóa Việt Nam từ những năm 70 thế kỷ XX. Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam “Thiết chế văn hóa là chính thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố: cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, hệ thống biện pháp hoạt động và kinh phí hoạt động cho thiết chế đó” [55, tr.
Thiết chế văn hóa là những công trình thuộc kết cấu hạ tầng xã hội được sử dụng cho các hoạt động trong lĩnh vực văn hóa - thể thao, nhằm phục vụ nhu cầu nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, đảm bảo các tiêu chuẩn như: cơ sở vật chất kỹ thuật, có tổ chức bộ máy, có hoạt động theo chức năng, có sự tham gia sinh hoạt của quần chúng nhân dân. Cơ sở vật chất là yếu tố dễ thấy nhất trong hệ thống thiết chế văn hóa và nó cũng có mối liên hệ biện chứng với những yếu tố phi vật thể. Yếu tố cơ sở vật chất trong hệ thống thiết chế văn hóa, ngoài điện, đường, trường, trạm, còn có hệ thống cơ sở văn hóa, thể thao phục vụ cộng đồng thuộc ngành văn hóa, thể thao và du lịch quản lý bao gồm nhà văn hóa – khu thể thao ở thôn và tương đương, trung tâm văn hóa – thể thao ở xã, phường, thị trấn, quận, huyện, thành phố, tỉnh. Hệ thống cơ sở văn hóa, thể thao phục vụ thanh niên, thiếu niên và nhi đồng, bao gồm: nhà thiếu nhi, cung thiếu nhi hoặc trung tâm hoạt động thanh, thiếu nhi.
Hệ thống cơ sở văn hóa, thể thao phục vụ công nhân, viên chức, người lao động bao gồm: nhà văn hóa lao động, cung văn hóa lao động, trung tâm văn hóa – thể thao ở khi chế xuất, khu công nghiệp và trong các doanh nghiệp lớn, hệ thống cơ sở văn hóa, thể thao thuộc các Bộ, ngành, đoàn thể và lực lượng vũ trang, cơ sở văn hóa, thể thao được đầu tư bằng nguồn vốn xã hội hóa, được quy định về 13 nguyên tắc quản lý và định hướng phát triển. Những cơ sở vật chất trên đây phải đi liền với trang thiết bị, tổ chức bộ máy, số lượng và trình độ cán bộ. Có như vậy, hệ thống thiết chế văn hóa mới phát huy hết vai trò quan trọng của mình. Nội dung quản lý hoạt động của Nhà văn hóa, Trung tâm văn hóa Xét về phương diện bản chất và mục đích, các hoạt động văn hóa của NVH, TTVH cũng đều phải thực hiện toàn bộ quá trình từ khâu sáng tạo, sản xuất, phổ biến, khai thác và sử dụng những giá trị văn hóa, sản phẩm văn hóa nhằm mục đích giáo hóa con người phát triển toàn diện, đủ khả năng đáp ứng được yêu cầu của thời kỳ CNH, HĐH phù hợp với lý tưởng xây dựng CNXH ở nước ta.
Quản lý về văn hóa có thể hiểu là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đối với các hoạt động văn hóa nhằm giữ gìn, xây dựng và phát triển nền văn hóa, đạt được mục tiêu nhất định. Theo khái niệm trên thì: i) Chủ thể quản lý là: các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền quản lý; ii) Công cụ quản lý đối với văn hóa là hệ thống chính sách và luật pháp được duy trì kiểm soát bởi các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Phạm vi hoạt động văn hóa gồm 5 lĩnh vực chủ yếu: 1) Các hoạt động văn hóa thuộc lĩnh vực tuyên truyền cổ động chính trị. Đây thực chất là một hoạt động văn hóa, bởi nó phải khai thác những giá trị văn hóa, sản phầm văn hóa để sản xuất và trình diễn, trưng bày các chương trình tuyên truyền và cổ động cho một số nhiệm vụ chính trị nào đó.
2) Các hoạt động văn hóa thuộc lĩnh vực nghệ thuật quần chúng, đại chúng: gồm rất nhiều các loại hình, kiểu loại hoạt động, bao quát toàn bộ hoạt động các khâu, đáp ứng nhu cầu trên tất cả các mặt sáng tạo, sản xuất, thưởng thức, truyền bá và giáo dục thẩm mỹ, nghệ thuật.