Chương 1 Cơ sở lý thuyết quản lý Trung tâm Văn hoá - Thể thao và khái quát về Trung tâm Văn hóa - Thể thao huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động trung tâm Văn hóa-Thể thao huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động trung tâm Văn hóa - Thể thao huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. 9 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TRUNG TÂM VĂN HÓA - THỂ THAO CẤP HUYỆN VÀ KHÁI QUÁT VỀ TRUNG TÂM VĂN HÓA - THỂ THAO HUYỆN VĨNH LỢI, TỈNH BẠC LIÊU 1.
Cơ sở lý luận về quản lý trung tâm Văn hóa - Thể thao cấp huyện 1. Quản lý văn hóa Theo GS. Bùi Quang Thanh: Khái niệm quản lý văn hóa trong xã hội hiện đại được hiểu là công việc của nhà nước, được thực hiện thông qua việc ban hành quy chế, chính sách, tổ chức triển khai, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và cả nước. Nh n vào thực tiễn, không khó để nhận thấy, quản lý văn hóa còn được hiểu là sự tác động chủ quan bằng nhiều h nh thức, phương pháp của chủ thể quản lý (các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể, các cơ cấu dân sự, các cá nhân được trao quyền và trách nhiệm quản lý) đối với khách thể (mọi thành phần/thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa) nhằm đạt được mục tiêu mong muốn (bảo đảm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, nâng cao vị thế quốc gia, cải thiện chất lượng sống của người dân.
Quản lý văn hóa là tác động có định hướng của hệ thống các cơ quan, tổ chức đến hoạt động văn hóa nhằm xây dựng một nền văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa, sản xuất những sản phẩm văn hóa, dịch vụ văn hóa đáp ứng nhu cầu của con người. Như vậy, quản lý văn hóa thực chất là quản lý phát triển văn hóa, lấy đời sống văn hóa, hoạt động văn hóa cùng với sự vận hành của giá trị văn hóa làm đối tượng quản lý, hướng đến mục tiêu cao nhất là xây dựng văn hóa, phát triển con người. Ngược lại, quản lý văn hóa yếu kém sẽ 10 đưa đến những phức tạp cho việc quản lý phát triển xã hội nói chung. V thế, công tác định hướng quản lý văn hóa ngày càng phải được coi như một công việc có tầm quan trọng đặc biệt, lâu dài trong quá tr nh phát triển đất nước.
10 Trong quản lý văn hóa ở nước ta hiện nay, quản lý nhà nước về văn hóa là một bộ phận cơ bản, quan trọng, đóng vai trò định hướng, định chuẩn và có tác động cực kỳ quan trọng tới sự nghiệp phát triển văn hóa, xây dựng con người. ởi, quản lý nhà nước về văn hóa là sự quản lý của nhà nước đối với toàn bộ nền văn hóa, toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia thông qua quyền lực của nhà nước, thể hiện bằng hiến pháp, cơ chế, chính sách. nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của nền văn hóa dân tộc. Thiết chế văn hóa Thiết chế (Institution) nghĩa là hệ thống những luật lệ, quy tắc biểu hiện giá trị, chuẩn mực để mọi người trong xã hội theo đó chấp hành.
Hai từ thể chế và thiết chế về sau này có sự phân biệt nội dung phản ánh. Thể chế giữ được nghĩa ban đầu còn thiết chế mang thêm những nghĩa mới hàm ý chỉ các mô h nh tổ chức xã hội có kết cấu chặt chẽ. Thiết chế văn hóa là một tổ chức xã hội ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của con người, bao gồm một số thành tố cơ bản có liên kết với nhau chặt chẽ. Hệ thống thiết chế văn hóa ở nước ta gồm một số loại h nh chủ yếu là: Hệ thống nhà văn hóa, hệ thống nhà triển lãm văn hóa nghệ thuật, hệ thống thư viện, hệ thống bảo tàng, hệ thống rạp chiếu phim, hệ thống nhà hát, hệ thống điểm bưu điện – văn hóa xã [35, tr.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về thiết chế văn hóa nhưng chính thống và đầy đủ nhất là định nghĩa được ghi trong Từ điển ách khoa Việt Nam: Thiết chế văn hóa là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong ngành văn hóa Việt Nam từ những năm 70 thế kỷ XX. Thiết chế văn hóa là chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố: cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động nguồn kinh phí [21]. 11 Thiết chế văn hóa là những công tr nh thuộc kết cấu hạ tầng xã hội được sử dụng cho các hoạt động trong lĩnh vực văn hóa - thể thao, nhằm phục vụ nhu cầu nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, đảm bảo các tiêu chuẩn như: cơ sở vật chất kỹ thuật, có tổ chức bộ máy, có hoạt động theo chức năng, có sự tham gia sinh hoạt của quần chúng nhân dân. Cơ sở vật chất là yếu tố dễ thấy nhất trong hệ thống thiết chế văn hóa và nó cũng có mối liên hệ biện chứng với những yếu tố phi vật thể.
Yếu tố cơ sở vật chất trong hệ thống thiết chế văn hóa, ngoài điện, đường, trường, trạm, còn có hệ thống cơ sở văn hóa, thể thao phục vụ cộng đồng thuộc ngành văn hóa, thể thao và du lịch quản lý bao gồm nhà văn hóa - khu thể thao ở thôn và tương đương, trung tâm văn hóa thể thao ở xã, phường, thị trấn, quận, huyện, thành phố, tỉnh. Trung tâm văn hóa thể thao Thuật ngữ Nhà văn hóa có thể hiểu như sau: Nhà văn hóa là những thiết chế trung tâm của lĩnh vực công tác văn hóa quần chúng, là nơi diễn ra tổng hợp mọi loại hoạt động văn hóa quần chúng, tùy theo chu kỳ thời gian và theo nhu cầu sở thích văn hóa, nghệ thuật, thể thao, vui chơi giải trí của quần chúng trên từng địa bàn” [24, tr. Nhà văn hóa như một tên gọi chung, đại diện cho lĩnh vực hoạt động văn hóa mang tính quần chúng, trực tiếp quần chúng. Từ những năm 1960 - 1993, TTVHTT được quan niệm là một thiết chế thuộc công tác văn hóa quần chúng nên được định danh là NVH.
Tuy nhiên sau năm 1993, sau khi kiểm nghiệm một vài mô h nh TTVHTT, ộ VHTT đã ra văn bản về việc thành lập các TTVHTT với quan niệm, công tác NVH là một bộ phận của công tác VHTT cơ sở. Từ đây, các NVH quận huyện bắt đầu phân hóa tên gọi. Có nơi xây mới sẽ gọi theo tên mới, có nơi chuyển đổi thiết chế cũ thành tên mới, có nơi không thay đổi dẫn tới sự khác nhau hiện nay. Không có quy định chuẩn về tiêu chuẩn mặt bằng và thiết bị cho các NVH khiến các NVH có thể được 12 hiểu là thiết chế lớn hơn hoặc nhỏ hơn TTVHTT, do vậy phần lớn các TTVHTT cấp quận huyện hiện nay được định danh theo hướng là một thiết chế không trùng với NVH.
TTVHTT như một tên gọi chung, đại diện cho lĩnh vực hoạt động văn hóa mang tính quần chúng, trực tiếp quần chúng. Tên gọi trung tâm văn hóa thể thao có thể và đã được biến thể thành nhiều dạng danh xưng khác nhau như: Nhà văn hóa, câu lạc bộ, trung tâm văn hóa, trung tâm văn hóa thông tin thể thao, trung tâm thể thao. Hiểu đơn giản, trung tâm (center) là một địa điểm chính, một điểm tập trung các sinh hoạt văn hóa, vui chơi giải trí, mọi người giao lưu tiếp xúc với nhau v một nhu 13 cầu sở thích nào đó. Nhưng trong trường hợp là một loại của thiết chế Nhà văn hóa, từ trung tâm” thường được hiểu là lớn hơn Nhà”.
Trung tâm có nội dung hoạt động lớn hơn, bao gồm nhiều ngành, có cả hoạt động trong nhà và ngoài trời. Chẳng hạn, coi Trung tâm Văn hóa - Thông tin, Trung tâm Văn hóa - Thể thao, Trung tâm Văn hóa - Du lịch. lớn hơn các Nhà văn hóa truyền thống vốn có ở nước ta trước đây. Dù đặt nhiều tên gọi khác nhau, và dù mỗi mô h nh đó đều có nội dung, phương pháp hoạt động chuyên môn khác nhau nhưng chúng vẫn cùng nằm chung phạm trù của lĩnh vực công tác văn hóa quần chúng, văn hóa - giáo dục cộng đồng.
Trong điều kiện xây dựng nền văn hóa xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, tất cả các mô h nh thiết chế văn hóa quần chúng đó (không riêng TTVHTT) đều có thể mang chung một định nghĩa: Là những cơ quan giáo dục xã hội chủ nghĩa ngoài nhà trường và tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí” Nó sử dụng một hệ thống những biện pháp tổ chức, hướng dẫn và dịch vụ, để đáp ứng nhu cầu hoạt động trong thời gian rỗi (giải trí, học tập và sáng tạo văn hóa phong phú, lành mạnh, khỏe khoắn) cho quần chúng, trên cơ sở đó mà nhằm bồi dưỡng, nâng cao, hoàn thiện nhân cách con người cả về đức, trí, thể, mỹ và năng lực hành động thực tế. 13 Như vậy, theo tác giả nhận định, trung tâm văn hóa thể thao là một thiết chế văn hóa tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí bao gồm các hoạt động văn hóa và thể thao. Hiện nay, ở nước ta chỉ xây dựng NVH ở xã, phường, còn ở huyện, tỉnh th xây dựng TTVH, TTVHTT. Nội dung hoạt động Trung tâm Văn hóa - Thể thao cấp huyện Thứ nhất, triển khai thực hiện văn bản quy phạm pháp luật trong quản lý hoạt động Trung tâm Văn hóa - Thể thao cấp huyện Việc triển khai thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong quản lý hoạt động của trung tâm văn hóa thể thao cấp huyện có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của trung tâm.
Các văn bản quy phạm pháp luật nhằm đảm bảo việc quản lý hoạt động của trung tâm được thực hiện đúng pháp luật, đảm bảo an toàn và hiệu quả. Ngoài ra, việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật còn giúp trung tâm đảm bảo an toàn cho các hoạt động văn hóa thể thao, tránh các rủi ro phát sinh trong quá trình hoạt động. Nếu không triển khai và thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật đầy đủ và đúng đắn, trung tâm văn hóa thể thao có thể đối mặt với các rủi ro pháp lý và hình phạt từ phía cơ quan chức năng.