Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Quản lý văn hóa Nguồn gốc phát triển loài người là lao động của cá nhân và lao động chung. Mác đã khẳng định: Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng [12].
Từ đó cho thấy, C. Mác đã đề cao vai trò của người đứng đầu, đó là người chỉ đạo mọi hoạt động của các cá nhân để tạo nên môt tập thể chung. Lao động chung cần có tổ chức và thống nhất nhằm tạo ra sức mạnh để đạt được mục đích chung. Trong lịch sử phát triển loài người xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù là tổ chức - điều khiển con người với các hoạt động theo những yêu cầu nhất định; dạng lao động đó được gọi là quản lý.
Như vậy, quản lý là một hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt được mục tiêu chung đề ra. Mặc dù, quản lý là một thuộc tính tất yếu gắn liền với xã hội nhưng chỉ khi xã hội phát triển đến một trình độ nhất định thì quản lý mới được tách ra thành một 2 chức năng riêng của lao động xã hội; dần dần hình thành những tập thể, những tổ chức và cơ quan chuyên hoạt động quản lý - hệ thống quản lý (chủ thể quản lý). Theo Henry Fayol (1886 - 1925), ông là Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123 14 of 98. 8 người đầu tiên nghiên cứu, tiếp cận quản lý theo quy trình, cũng là người có tầm nhìn, có sự ảnh hưởng lớn từ thời cận hiện đại cho đến nay, ông đã định nghĩa về quản lý như sau: “Lập kế hoạch, tổ chức, phân công điều khiển và kiểm soát các nỗ lực của cá nhân, bộ phận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vật chất khác của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra” [25, tr.
Còn Harol Koontz từng nhận định: “Quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, phối hợp, hướng dẫn hoạt động của những người khác” [19]. Ở nước ta thời gian gần đây, cũng đã xuất bản nhiều công trình nghiên cứu và giáo trình về Khoa học quản lý, trong đó đã giải thích rõ khái niệm quản lý. Trong Từ điển Giáo dục học đã định nghĩa quản lý như sau: “Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [45]. Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được những mục tiêu nhất định trong điều kiện biến đổi của môi trường và quy luật phát triển của xã hội.
Hay như tác giả Nguyễn Minh Đạo nhận định: "Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra” [18]. Từ những quan niệm này cho thấy, quản lý là một hoạt động liên tục và cần thiết khi con người kết hợp với nhau trong tổ chức. Đó là quá trình tạo nên sức mạnh gắn liền các hoạt động của các cá nhân với nhau trong một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung. Đối tượng chủ yếu và trực tiếp của quản lý là những mối quan hệ con người bên trong và bên ngoài tổ chức.
Chủ thể tác động lên con người, thông qua đó mà tác động đến các yếu tố vật chất và phi vật chất khác như tài chính, cơ sở vật chất, công nghệ, thông tin, hệ thống. để tạo ra kết quả cuối cùng của toàn bộ hoạt động. Một nhà quản lý muốn quản lý tốt cần phải nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123 15 of 98. Ngoài ra, người quản lý cần có cái nhìn tổng thể và khách quan, từ đó vận dụng khéo léo, linh hoạt những kinh nghiệm đã quan sát được, những tri thức đã được đúc kết.
Vậy quản lý văn hóa là gì? Theo PGS.TS Bùi Quang Thanh: Khái niệm quản lý văn hóa trong xã hội hiện đại được hiểu là công việc của nhà nước, được thực hiện thông qua việc ban hành quy chế, chính sách, tổ chức triển khai, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương và cả nước [33]. Nhìn vào thực tiễn, không khó để nhận thấy, quản lý văn hóa còn được hiểu là sự tác động chủ quan bằng nhiều hình thức, phương pháp của chủ thể quản lý (các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể, các cơ cấu dân sự, các cá nhân được trao quyền và trách nhiệm quản lý) đối với khách thể (mọi thành phần/thành tố tham gia và làm nên đời sống văn hóa) nhằm đạt được mục tiêu mong muốn (bảo đảm văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, nâng cao vị thế quốc gia, cải thiện chất lượng sống của người dân. Quản lý văn hóa là tác động có định hướng của hệ thống các cơ quan, tổ chức đến hoạt động văn hóa nhằm xây dựng một nền văn hóa, xây dựng đời sống văn hóa, sản xuất những sản phẩm văn hóa, dịch vụ văn hóa đáp ứng nhu cầu của con người. Như vậy, quản lý văn hóa thực chất là quản lý phát triển văn hóa, lấy đời sống văn hóa, hoạt động văn hóa cùng với sự vận hành của giá trị văn hóa làm đối tượng quản lý, hướng đến mục tiêu cao nhất là xây dựng văn hóa, phát triển con người.
Ngược lại, quản lý văn hóa yếu kém sẽ đưa đến những phức tạp cho việc quản lý phát triển xã hội nói chung. Vì thế, công tác định hướng quản lý văn hóa ngày càng phải được coi như một công việc có tầm quan trọng đặc biệt, lâu dài trong quá trình phát triển đất nước. Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123 16 of 98. 10 Trong quản lý văn hóa ở nước ta hiện nay, quản lý nhà nước về văn hóa là một bộ phận cơ bản, quan trọng, đóng vai trò định hướng, định chuẩn và có tác động cực kỳ quan trọng tới sự nghiệp phát triển văn hóa, xây dựng con người.
Bởi, quản lý nhà nước về văn hóa là sự quản lý của nhà nước đối với toàn bộ nền văn hóa, toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia thông qua quyền lực của nhà nước, thể hiện bằng hiến pháp, cơ chế, chính sách. nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của nền văn hóa dân tộc. Trong các Văn kiện của Đảng đã chỉ rõ mọi hoạt động văn hóa đều phải nhằm vào việc xây dựng con người Việt Nam mới phát triền toàn diện. Như Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX cũng đã khẳng định: “Mọi hoạt động văn hóa nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình”.
Để thực hiện mục đích cao cả đó, mọi hoạt động văn hóa trong xã hội phải biết tận dụng, phát huy tất cả giá trị văn hóa. Vì vậy, đòi hỏi chủ thể quản lý phải có những chủ trương, chính sách, giải pháp hợp lý để thúc đẩy các hoạt động văn hóa phát triển đúng hướng và đạt hiệu quả tối đa mục đích đã đặt ra. Thiết chế văn hóa Có nhiều định nghĩa khác nhau về thiết chế văn hóa nhưng chính thống và đầy đủ nhất là định nghĩa được ghi trong Từ điển Bách khoa Việt Nam: Thiết chế văn hóa là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong ngành văn hóa Việt Nam từ những năm 70 thế kỷ XX. Thiết chế văn hóa là chỉnh thể văn hóa hội tụ đầy đủ các yếu tố: cơ sở vật chất, bộ máy tổ chức, nhân sự, quy chế hoạt động nguồn kinh phí [44].
Thiết chế (Institution) nghĩa là hệ thống những luật lệ, quy tắc biểu hiện giá trị, chuẩn mực để mọi người trong xã hội theo đó chấp hành. Hai từ thể chế và thiết chế về sau này có sự phân biệt nội dung phản ánh. Thể chế Tng hp các án, khóa lun, tiu lun, chuyên và lun vn tt nghip i hc v các chuyên ngành: Kinh t, Tài Chính & Ngân Hàng, Công ngh thông tin document, khoa luan, tieu luan, 123 17 of 98. 11 giữ được nghĩa ban đầu còn thiét chế mang thêm những nghĩa mới hàm ý chỉ các mô hình tổ chức xã hội có kết cấu chặt chẽ.
Thiết chế văn hóa là một tổ chức xã hội ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần của con người, bao gồm một số thành tố cơ bản có liên kết với nhau chặt chẽ. Hệ thống thiết chế văn hóa ở nước ta gồm một số loại hình chủ yếu là: Hệ thống nhà văn hóa, hệ thống nhà triển lãm văn hóa nghệ thuật, hệ thống thư viện, hệ thống bảo tàng, hệ thống rạp chiếu phim, hệ thống nhà hát, hệ thống điểm bưu điện – văn hóa xã. Thiết chế văn hóa là những công trình thuộc kết cấu hạ tầng xã hội được sử dụng cho các hoạt động trong lĩnh vực văn hóa – thể thao, nhằm phục vụ nhu cầu nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân, đảm bảo các tiêu chuẩn như: cơ sở vật chất kỹ thuật, có tổ chức bộ máy, có hoạt động theo chức năng, có sự tham gia sinh hoạt của quần chúng nhân dân.