CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU 1. Quan điểm phát triển TDTT quần chúng theo định hướng XHH 1. Khái niệm về thể thao quần chúng Dưới góc độ xã hội học, thể thao được hiểu là một hiện tượng xã hội đặc biệt. TDTT quần chúng là hoạt động tập luyện và thi đấu của nhân dân với mục đích rèn luyện thể lực, tăng cường sức khỏe, phục vụ trực tiếp công tác, học tập, lao động sản xuất, sẵn sàng chiến đấu và chữa bệnh, nghỉ ngơi, giải trí của các đối tượng từ mầm non đến người cao tuổi.
Đối tượng của TDTT quần chúng là tất cả mọi người. Khác với thể thao thành tích cao (TTTTC) là lĩnh vực riêng cho một số người có tài năng đặc biệt, TDTT quần chúng là hình ảnh một nền TDTT của một quốc gia, là một hoạt động rộng rãi, thu hút đông đảo quần chúng tham gia tập luyện. Sản phẩm của nó là một trong các chỉ tiêu về dân trí, hạnh phúc của người dân và sự phồn vinh của xã hội [14], [15], [16]. Một số thuật ngữ trong TDTT quần chúng TDTT Với nghĩa rộng, TDTT là một loại hoạt động văn hóa thể chất có ý thức, có kế hoạch nhờ rèn luyện thân thể, bài tập thể chất để tăng cường sức khỏe giúp con người phát triển toàn diện, làm phong phú đời sống văn hóa xã hội và văn minh tinh thần bao gồm TDTT trường học, TDTT quần chúng, TTTTC.
Với nghĩa hẹp, TDTT là quá trình giáo dục có mục đích, có kế hoạch thông qua hoạt động thân thể để tăng cường thể chất, truyền thụ tri thức, kỹ thuật, kỹ năng rèn luyện thân thể, bồi dưỡng đạo đức và phẩm chất ý chí. Nó là bộ phận hợp thành của giáo dục, là một mặt quan trọng để bồi dưỡng cá thể phát triển toàn diện. TDTT là một khái niệm lịch sử, không ngừng phát triển và phong phú thêm theo sự diễn biến thay đổi của xã hội [23]. TDTT quần chúng: Là một mảng quan trọng trong lĩnh vực thể thao nước nhà, thể thao quần chúng luôn đã góp phần cổ vũ phong trào tập luyện thể dục thể thao phát triển sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân; nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho người dân.
6 TDTT giải trí: Hoạt động TDTT làm phong phú đời sống văn hóa, điều tiết tinh thần với mục đích cơ bản là nghỉ ngơi tích cực, tiêu trừ mệt mỏi, vui vẻ; thời gian nghỉ ngơi được sử dụng theo phương thức vì sự cân bằng tình cảm, vì sức khỏe, vì cuộc sống văn minh, khoa học; thuộc phạm trù TDTT quần chúng [23]. TDTT dân gian: Hình thức thể thao truyền thống lưu truyền rộng rãi trong dân gian, có phong cách dân tộc và đặc tính địa phương rõ ràng. Là bộ phận cấu thành quan trọng của văn hóa thể chất. TDTT dân gian có lịch sử lâu đời mang đậm bản sắc dân tộc.
Thể thao dân tộc: Thể thao dân tộc, trước hết cũng là những môn thể thao, ra đời và phát triển chủ yếu ở một dân tộc, vùng, nước nào đó; phản ánh đặc điểm của con người và điều kiện thiên nhiên, xã hội nơi đó. Như vậy, thể thao dân tộc là những trò chơi vận động dân gian được chuẩn hóa về luật có tập luyện và thi đấu theo hệ thống, đáp ứng nhu cầu mang tính truyền thống, trước hết ở một vùng nào đấy, sau đó được giao lưu truyền bá rộng rãi trong và ngoài nước. TDTT truyền thống: Hiện tượng văn hóa và TDTT dân gian của các quốc gia, khu vực, dân tộc trên thế giới dần dần hình thành và phát triển qua lịch sử nhất định và có định chế nhất định. TDTT truyền thống phản ánh đặc điểm khác nhau về phương thức sinh hoạt sản xuất, tư tưởng triết học, tín ngưỡng, tôn giáo, quan điểm mỹ học, phong tục tập quán của mỗi quốc gia, khu vực, dân tộc [23].
TDTT trường học: Đó là một loại hoạt động văn hóa giáo dục có kế hoạch, có tổ chức, phương pháp là dùng bài tập thể chất làm phương tiện cơ bản, lấy mục tiêu chủ yếu là tăng cường và thúc đẩy sự phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần của học sinh, bồi dưỡng năng lực, thói quen, hứng thú, ý thức rèn luyện thân thể suốt đời cho học sinh. Là bộ phận hợp thành hữu cơ của giáo dục học đường; là cơ sở của nền TDTT quốc dân; là sự kết hợp giữa giáo dục thể chất và giáo dục. Sự phát triển TDTT trường học chịu sự ảnh hưởng của chính trị, kinh tế- xã hội [23]. CLB TDTT: Hình thức tổ chức hoạt động TDTT của những người cùng có hứng thú đạt đến mục tiêu của TDTT, được thành lập theo trình tự quy định, 7 có cơ sở vật chất hoặc sân bãi tương đối ổn định, được tổ chức hướng dẫn theo kế hoạch.
Hiện nay có 3 loại hình CLB: (CLB nhà nghề; CLB TDTT hoạt động vì lợi nhuận thương mại; CLB thể thao quần chúng được xã hội hóa - Công ích hoặc dịch vụ công, đơn vị sự nghiệp có thu [23]. Thiết chế xã hội: Là khái niệm chỉ toàn bộ hệ thống tổ chức và hệ thống giám sát mọi hoạt động của xã hội. Thiết chế xã hội là một tập hợp các vị thế và vai trò có chủ định nhằm thỏa mãn nhu cầu xã hội quan trọng [2]. Chiến lược phát triển TDTT: Chỉ mưu lược và quyết sách dài hạn, toàn cục phát triển TDTT của quốc gia (hoặc khu vực) để thực hiện các mục đích, nhiệm vụ, phát huy các chức năng, tác dụng của TDTT.
Chiến lược TDTT chủ yếu thể hiện mục tiêu chiến lược, giải pháp chiến lược phát triển TDTT; là kết quả nghiên cứu của người hoạch định chiến lược dưới sự chi phối của các quan niệm giá trị TDTT, căn cứ vào các điều kiện của quốc gia về kinh tế, xã hội, văn hóa để phát triển TDTT; căn cứ vào thực trạng phát triển và xu thế phát triển TDTT trong và ngoài nước. Chiến lược phát triển TDTT là ý chí chủ quan của những nhà hoạch định chiến lược, chỉ đạo sự phát triển TDTT của quốc gia hoặc khu vực, vì vậy đòi hỏi phải có tính chính xác và tính khoa học cao. Tính chính xác và tính khoa học phụ thuộc 3 nhân tố: Quan điểm giá trị; hàm lượng thông tin về sự phát triển TDTT và phương pháp nghiên cứu chiến lược [23]. Mục tiêu và nội dung phát triển thể thao quần chúng theo định hướng xã hội hóa XHH TDTT là chủ trương lớn của Đảng và Chính phủ, cần được quán triệt để tăng nhịp độ phát triển sự nghiệp TDTT phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.
TDTT là sự nghiệp của nhân dân, của toàn xã hội. Nhân dân là người sáng tạo, người thực hiện và là người thưởng thức các thành quả của hoạt động TDTT. Đảng ta đã khẳng định rõ vị trí quan trọng của TDTT trong chính sách phát triển kinh tế, xã hội nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, tạo ra sức mạnh và động lực phát triển đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng TDTT ngày 8 càng trở thành một bộ phận không thể thiếu được trong đời sống xã hội ở nước ta, nhằm thực hiện mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” [85].
Các nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, IX, X, XI của Đảng đã xác định những quan điểm cơ bản và chủ trương lớn để lãnh đạo và chỉ đạo công tác TDTT trong sự nghiệp đổi mới [43], [46], [47], [49] đó là: Phát triển TDTT là một yêu cầu khách quan, một mặt quan trọng của chính sách xã hội, một biện pháp tích cực để giữ gìn và nâng cao sức khỏe, làm phong phú đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân, góp phần mở rộng giao lưu quốc tế, phục vụ tích cực các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phòng của đất nước. Phát triển TDTT phải đảm bảo tính dân tộc, tính khoa học và nhân dân; kết hợp phát triển TDTT quần chúng với phát triển thể thao thành tích cao. Kết hợp phát triển TDTT trong nước với mở rộng các quan hệ quốc tế về thể thao. XHH tổ chức hoạt động TDTT dưới sự quản lý của Nhà nước.
Tạo điều kiện thuận lợi cho mọi tổ chức, tập thể, cá nhân có trách nhiệm tự nguyện và bình đẳng hỗ trợ, đóng góp nhân lực, tiền tài, trí tuệ để phát triển TDTT; tăng tài sản của TDTT trong xã hội; mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác mọi tiềm năng xã hội, tăng cường nội sinh kết hợp khai thác năng lực khoa học- công nghệ của nước ngoài để phát triển TDTT. Phát triển mạnh mẽ phong trào TDTT quần chúng, thể thao cho mọi người đồng thời với việc đẩy mạnh nhịp độ đào tạo tài năng thể thao, chuyên nghiệp hóa thể thao; đẩy nhanh tốc độ phát triển thành tích thể thao nước nhà mau chóng đuổi kịp các nước tiên tiến về thể thao trong khu vực, châu lục và thế giới [85], [86]. Đổi mới mạnh mẽ hình thức tổ chức và phương thức, nội dung tập luyện TDTT quần chúng, mở rộng các hình thức tổ chức người tập, đặc biệt coi trọng hình thức câu lạc bộ TDTT (CLB TDTT) cơ sở để thu hút ngày càng nhiều người tập luyện TDTT. Phát triển TDTT quần chúng luôn được coi trọng là nhiệm vụ trọng tâm của công tác TDTT.
Để tạo ra những động lực mới và sức sống của phong trào 9 quần chúng tập luyện TDTT cần quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều người tập và thưởng thức TDTT theo nhu cầu và trình độ của họ [25]. Phát triển TDTT rộng khắp trong mọi tầng lớp nhân dân, mọi đối tượng mọi địa bàn dân cư. Làm cho việc rèn luyện thân thể trở thành nhu cầu, thói quen hàng ngày của đông đảo nhân dân. Làm cho mọi người đều có cơ hội tham gia tập luyện và hưởng thụ những giá trị nhân văn của TDTT, góp phần phát triển sự nghiệp TDTT [57], [58], [87].
Coi trọng chất lượng và hiệu quả TDTT quần chúng, lấy số lượng các trường học có thực hiện chương trình giáo dục thể chất bắt buộc, số CLB TDTT cơ sở, số người tập trong các CLB đó, số người rèn luyện thân thể các cấp và số lượng các môn thể thao được tập luyện và phát triển làm tiêu chí đánh giá trình độ phát triển của TDTT quần chúng và là một trong các tiêu chí về đời sống xây dựng văn hóa cơ sở [88], [89].