CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ HUẤN LUYỆN VIÊN- NGUỒN NHÂN LỰC QUAN TRỌNG 1. Khái quát về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Một số khái niệm 1. Nguồn nhân lực Nhân lực: Là nguồn lực của mỗi con người có thể huy động được trong quá trình sản xuất kinh doanh, bao gồm trí lực và thể lực.
Trí lực chỉ sức suy nghĩ, sự hiểu biết sự tiếp thu kiến thức, tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách… của từng con người. Thể lực là chỉ sức khoẻ của thân thể, khả năng sử dụng cơ bắp tay chân tay. Nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như gen di truyền, giới tính, tuổi tác, tầm vóc con người, chế độ ăn uống, chế độ nghỉ ngơi, mức sống, thu nhập và chế độ y tế… Tóm lại: Nhân lực bao gồm tất cả các tiềm năng của con người trong một tổ chức hay xã hội (kể cả những thành viên trong ban lãnh đạo doanh nghiệp), tức là tất cả các thành viên trong doanh nghiệp sử dụng kiến thức, khả năng, hành vi ứng xử và giá trị đạo đức để thành lập, duy trì và phát triển doanh nghiệp. Nguồn nhân lực: Có thể hiểu là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động vào quá trình lao động.
Nguồn nhân lực trong tổ chức bao gồm: Nhân viên và cán bộ quản lý Cán bộ quản lý: Là một trong hai bộ phận cấu thành nên đội ngũ lao động trong tổ chức. Học viên: Phạm Quế Anh Lớp 10BQTKDCB 2010-2012 3 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ Trong thể thao, huấn luyện viên là người trực tiếp huấn luyện, đào tạo và hướng dẫn các hoạt động của một đội thể thao hoặc của một cá nhân vận động viên. Một huấn luyện viên, đặc biệt trong một trận đấu lớn, thường được hỗ trợ bởi một hoặc nhiều trợ lý huấn luyện viên. Họ có thể là điều phối viên hoặc chuyên gia thể lực.
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hoạt động nhằm để duy trì và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tổ chức. Phát triển nguồn nhân lực (theo nghĩa rộng) là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động. Phát triển nguồn nhân lực bao gồm ba hoạt động là: Giáo dục, đào tạo và phát triển. Giáo dục: Giáo dục là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề mới thích hợp hơn trong tương lai.
Giáo dục bao gồm các hoạt động nhằm cải tiến, nâng cao sự thuần thục, khéo léo của một cá nhân một cách toàn diện theo một hướng nhất định nào đó vượt ra ngoài công việc hiện hành. Giáo dục mang tính chất cung cấp cho học viên các kiến thức chung có thể sử dụng vào trong các lĩnh vực khác nhau. Đào tạo: Đào tạo (hay còn gọi là đào tạo kỹ năng) là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện kết quả hơn chức năng nhiệm vụ của mình. Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động, để họ có thể đảm nhận được một công việc nhất định.
Học viên: Phạm Quế Anh Lớp 10BQTKDCB 2010-2012 4 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ Như vậy, bản chất của đào tạo là các hoạt động nhằm mục tiêu nâng cao năng lực để người lao động có thể hoàn thành tốt một công việc cụ thể. Phát triển: Phát triển là các hoạt động học tập vươn ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức. Phát triển bao gồm các hoạt động nhằm chuẩn bị cho công nhân viên theo kịp với cơ cấu tổ chức khi nó thay đổi và phát triển. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực bao gồm không chỉ đào tạo, giáo dục và phát triển trong một tổ chức mà còn bao gồm một loạt các hoạt động khác được thực hiện từ bên ngoài, bao gồm: Học việc, học nghề, các hoạt động dạy nghề ở ngoài xã hội.
Đào tạo và phát triển Huấn luyện viên (HLV) Huấn luyện viên là người trực tiếp huấn luyện, đào tạo và hướng dẫn các hoạt động của một đội thể thao hoặc của một cá nhân vận động viên. Một huấn luyện viên, đặc biệt trong một trận đấu lớn, thường được hỗ trợ bởi một hoặc nhiều trợ lý huấn luyện viên. Họ có thể là điều phối viên hoặc chuyên gia thể lực. Đào tạo và phát triển HLV là tất cả các hoạt động để duy trì và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, là một bộ phận của đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Nhìn chung, công tác đào tạo và phát triển HLV nằm trong công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cho nền thể dục thể thao nước nhà. Về các hoạt động, chương trình… của công tác đào tạo và phát triển HLV giống như công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực. Nhưng về phạm vi, mức độ, nội dung cụ thể thì giữa chúng có sự khác biệt. Học viên: Phạm Quế Anh Lớp 10BQTKDCB 2010-2012 5 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ 1.
Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác đào tạo và phát triển Huấn luyện viên 1. Bối cảnh quốc tế Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là xu thế tất yếu của thể dục, thể thao ở mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam. Ngày 28/04/1980 Ủy ban Olympic quốc tế (IOC) chính thức công nhận Ủy ban Olympic Việt Nam là thành viên của phong trào Olympic Quốc tế. Cạnh tranh giành chiến thắng về thể thao, thể hiện sức mạnh của dân tộc, chính là đặc trưng của thể thao.
Tóm lược xu thế phát triển TDTT quốc tế trong những năm gần đây: - Xu thể phát triển thể dục, thể thao trường học: + Phát triển nhận thức về mục tiêu giáo dục thể chất trường học: Xác định tăng cường sức khỏe tinh thần và thể chất cho học sinh là mục tiêu cuối cùng; chú trọng cho học sinh tự chọn các nội dung hoạt động thể dục, thể thao. + Nhiều quốc gia thực hiện cải cách nội dung giáo dục thể chất + Nhiều quốc gia thực hiện cải cách tổ chức giáo dục thể chất + Nhiều quốc gia thay đổi phương pháp đánh giá về giáo dục thể chất - Xu thế phát triển thể dục, thể thao quần chúng: + Số ngời tham gia hoạt động thể dục, thể thao quần chúng tăng nhanh, thể dục, thể thao giải trí phát triển ngày càng phong phú. + Chính phủ các quốc gia tích cực tham gia và tăng cường chỉ đạo, tổ chức thể dục, thể thao quần chúng. + Chính phủ các quốc gia tăng cường xây dựng cơ sở vật chất thể dục, thể thao phúc lợi công.
+ Đo lường thể chất và phương pháp vận động (tập luyện, thi đấu) ngày Học viên: Phạm Quế Anh Lớp 10BQTKDCB 2010-2012 6 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ càng được khoa học hóa, tự động hóa bằng ứng dụng công nghệ IT. + Môi giới, truyền thông thể dục, thể thao quần chúng phát triển mạnh. + Hợp tác và giao lưu TDTT quần chúng quốc tế ngày càng tăng cường. - Xu thế phát triển thể thao thành tích cao: + Các quốc gia rất coi trọng tranh Huy chương vàng Olympic, trình độ thi đấu thể thao tăng rõ rệt.
+ Về chiến lược, các quốc gia đều điều chỉnh thu hẹp số môn thể thao trọng điểm, đầu tư có trọng điểm (ví dụ, đầu tư trọng điểm trước Olympic Bắc Kinh năm 2008) Bảng 1. Các môn thể thao trọng điểm (nguồn Tổng cục TDTT) TT Đất nước Môn thể thao Ghi chú Mỹ Điền kinh, bơi lội, Boxing, Vật Nga Thể dục dụng cụ, Vật, Điền kinh, Ngoài ra có 6 môn Bắn súng, Bơi lội, Cử tạ, Boxing trọng điểm loại 2 Pháp Xe đạp, Kiếm, Thể thao dưới nước Đức Đua thuyền, Canoeing, Ngựa, Điền kinh Trung Quốc Bóng bàn, nhảy cầu, Thể dục dụng cụ, Bắn súng, Cử tạ, Cầu lông + Nhìn chung các quốc gia, đặc biệt Trung Quốc vừa chú trọng xác định môn thể thao trọng điểm, vừa chú trọng xác định vận động viên trọng điểm (kể cả bao gồm vận động viên ở những môn thể thao không phải trọng điểm). + Nhiều quốc gia thành lập một số trung trong huấn luyện thể thao trọng điểm (Mỹ thành lập 4 trung tâm huấn luyện Olympic, Trung Quốc thành lập 5 trung tâm huấn luyện TT trọng điểm). Học viên: Phạm Quế Anh Lớp 10BQTKDCB 2010-2012 7 Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ + Tiêu chí để xác định môn thể thao trọng điểm và vận động viên trọng điểm ở các quốc gia là: Giành huy chương vàng Thế vận hội, ưu tiên môn thể thao nhiều lần giành huy chương vàng thế vận hội.
+ Tối ưu hóa phương thức huấn luyện, nâng cao trình độ thi đấu của vận động viên ưu tú trong thời gian ngắn. + Tăng cường giao lưu quốc tế về nhân tài thể thao, kỹ thuật và công nghệ thể thao. + Tần suất các cuộc thi đấu thể thao ngày càng nhiều, dẫn đến sự thay đổi quan niệm huấn luyện thể thao truyền thống. + Hàm lượng khoa học cộng nghệ ngày càng cao, trở thành nhân tố quan trọng để nâng cao thành tích thể thao.
+ Kinh doanh thể thao và thể thao nhà nghề tác động lớn đế sự phát triển kinh tế thể thao thành tích cao. - Xu thế cải cách quản lý thể dục, thể thao trên thế giới: Xu thế chung của các quốc gia là quản lý nhà nước kết hợp với quản lý xã hội về thể dục, thể thao (trừ Mỹ, chỉ quản lý xã hội về thể dục, thể thao).Bối cảnh trong nước - Phát triển sự nghiệp thể dục, thể thao nước ta trong những năm qua, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi để tiếp tục phát triển thể dục, thể thao đến năm 2020: + Sự phát triển TDTT đã bước đầu ra khỏi cơ chế kế hoạch tập trung, có sự tham gia điều chỉnh của yếu tố thị trường, có sự tham gia đầu tư của xã hội, của doanh nghiệp. Giải thi đấu của một số môn thể thao đã tìm được tài trợ.