Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH LÂM SÀNG CỦA HỌC SINH - SINH VIÊN TRƯỜNG TRUNG CẤP Y TẾ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Trong đào tạo y học thì hoạt động THLS luôn được coi là trọng tâm của chương trình đào tạo. Hoạt động THLS được coi là một đặc trưng riêng biệt trong lĩnh vực đào tạo của ngành Y tế. Trong hoạt động này, người giáo viên nắm giữ vai trò là người tổ chức, hướng dẫn, điều khiển nhằm giúp cho HS, SV thực hiện các thao tác kỹ thuật chuyên môn theo đúng qui trình - Đây là bước chuyển hoá từ kiến thức cơ bản (lý thuyết) được đưa vào thực tế trong công tác điều trị bệnh thông qua thao tác thực hiện kỹ thuật chuyên môn (lâm sàng).
Đòi hỏi mỗi HS, SV phải đạt được sự thuần thục về qui trình kỹ thuật (thứ tự thực hiện từng bước thao tác kỹ thuật), từ đó phát triển hình thành nên các kỹ năng lâm sàng. Hoạt động THLS luôn là vấn đề mà các nhà giáo dục quan tâm tới. Quản lý hoạt động THLS tốt sẽ nâng cao chất lượng THLS và chất lượng đào tạo đối với các trường y khoa trong cả nước. Hiện nay, có nhiều nhóm nghiên cứu trong nước và nước ngoài đã nghiên cứu về công tác quản lý hoạt động thực hành.
Những nghiên cứu ở nước ngoài - Cuốn tài liệu: “Giảng dạy nhân viên chăm sóc sức khỏe” của tác giả Fred Abbatt và Rosemany McMahon (1985) là một cuốn sách hướng dẫn thực hành dành cho công tác giảng dạy nhân viên y tế. 28 Cuốn sách đã được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới. Tác giả giải thích rõ vấn đề người giảng viên phải biết cụ thể người học cần học cái gì. Từ nhiệm vụ, tác giả phân tích sự khác biệt giữa các điều cần học khác nhau: Kiến thức, thái độ, kỹ năng thao tác tay nghề.
Tác giả đưa ra khái quát những gì cần học, làm cơ sở để nhà quản lý xây dựng kế hoạch chung cho chương trình khóa học, kế hoạch đánh giá và lựa chọn các phương pháp giảng dạy cũng như kế hoạch quản lý. 6 - Cuốn “Sổ tay giáo dục dành cho cán bộ y tế” (1992) của tác giả J. Guilbert đã nêu rõ quan điểm thực tập chính là trọng tâm của giáo dục y học, lấy người học làm trung tâm. 16 Tác giả nêu ra những vấn đề cơ bản và cách giải quyết những vấn đề đó như: cách xây dựng một kế hoạch thực tập, quản lý việc lượng giá các kỹ năng thực hành của SV, quản lý phương pháp hướng dẫn thực tập của giảng viên, phương pháp đánh giá cuối đợt thực tập của SV,… Nghiên cứu của nhóm tác giả Scanlan Judith, Care và Gessler Sandra “Giải pháp cho tình trạng SV chưa đạt yêu cầu trong thực tập lâm sàng” được in trong tập chí Nurse Educatorr (2001) đã nêu ra và phân tích tình trạng SV chưa đạt yêu cầu trong thực tập lâm sàng để từ đó tác giả đưa ra các biện pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tay nghề cho nhân viên y tế.
(dẫn theo34) - Tác giả Katie Tonarely có bài viết: “Tầm quan trọng của thực tập lâm sàng trong đào tạo điều dưỡng” (2010) đã nêu rõ quá trình đào tạo để trở thành người điều dưỡng chuyên nghiệp, SV điều dưỡng phải tham gia thực tập lâm sàng dưới sự hướng dẫn của GV. Mục đích là chuẩn bị cho SV làm công việc chăm sóc một cách độc lập và thích đáng. Tác giả nêu rõ lợi ích của việc thực tập lâm sàng là giúp cho SV điều dưỡng có thái độ đúng đắn trong việc chăm sóc người bệnh. GV có trách nhiệm hướng dẫn SV cách xử lý tình huống lâm sàng, qua đó đánh giá được kiến thức của SV, đánh giá khả năng ghi nhận, báo cáo những diễn biến của người bệnh, lập kế hoạch chăm sóc và thực hiện kế hoạch chăm sóc, thái độ đối với người bệnh.
Khi SV đạt được những yêu cầu nêu trên là SV đó đã đạt về kỹ năng nghề nghiệp. (dẫn theo34) - “Cẩm nang về phát triển chương trình đào tạo theo năng lực thực hiện” (1982) (Handbook for Developing Competency - Based Training Programs) của nhóm nghiên cứu William E. Blank đã đưa ra được tiêu chuẩn đầu ra của quá trình đào tạo, làm tiền đề cho việc lập các kế hoạch, thực hiện quá trình đáo tạo và vấn đề đánh giá kết quả học tập của HS, SV. Những nghiên cứu ở Việt Nam 7 Tại Việt Nam, có nhiều công trình nghiên cứu khoa học dưới nhiều hình thức khác nhau, nhưng đều nhằm nâng cao chất lượng thực tập và nâng cao chất lượng đào tạo.
Trong những năm gần đây có các Hội nghị chuyên đề, hội thảo về vấn đêg này, như: - Nguyễn Xuân Khang (2006), “Một số biện pháp quản lý thực tập lâm sàng”, của nhà xuất bản Hà Nội. 24 - “Thực trạng quản lý thực tập ở khoa Điều dưỡng - Kỹ thuật Y học, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn quản lý giáo dục học của tác giả Nguyễn Doãn Cường. Tác giả nêu ra thực trạng công tác quản lý của nhà trường trong thời gian tác giả nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý thực tập của nhà trường và quản lý thực tập lâm sàng cho SV y khoa. 21 - “Thực trạng quản lý thực tập tại trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch”, Luận văn quản lý giáo dục học của tác giả Nguyễn Thị Kim Thoa.
Tác giả nêu lên những vấn đề đang được đặt ra hiện nay đối với hoạt động thực tập ngành y của SV y khoa và đề xuất một số giải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho SV y khoa. 27 “Quản lý hoạt động thực tập nghề của học sinh sinh viên ở trường Cao đẳng Y tế Điện Biên” Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục của tác giả Nguyễn Thị Hồng. Tác giả đã nêu ra thực trạng công tác quản lý hoạt động thực tập nghề của học sinh sinh viên ở trường Cao đẳng Y tế Điện Biên trong thời gian tác giả nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động thực tập nghề của nhà trường và quản lý thực tập lâm sàng. 26 “Quản lý hoạt động dạy học thực hành ở trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh”.
Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục của tác giả Vũ Thị Thùy Dương. Tác giả đã nêu rõ thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở trường Cao đẳng Y tế Quảng Ninh, tác giả cũng đã đưa ra một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý hoạt động dạy học thực hành đối với nhà trường. Một số khái niệm công cụ của đề tài 8 1. Quản lý Quản lý là một loại hình lao động quan trọng của con người.
Hoạt động quản lý có tác động tới các lĩnh vực trong đời sống phản ánh sự nhận thức của con người với tự nhiên, môi trường, xã hội. Quản lý đúng là có nhận thức đúng về qui luật, vận động theo qui luật tự nhiên phù hợp với điều kiện môi trường. Khái niệm Quản lý được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học. Do vậy, có nhiều cách định nghĩa về khái niệm quản lý: - Theo Mary Parker Follet (Mỹ): "Quản lý là nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác" [8].Taylor: “Quản lý là biết chính xác điều người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [8].Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức)” [17].
- Theo các nhà Tâm lý học: Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó. - “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với qui luật khách quan” (dẫn theo [27]). - “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” (dẫn theo [27]). - “Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động”(dẫn theo [27]).
- Theo Các - Mác thì quản lý có một tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và thông qua quản lý. Người viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến 9 hành trên qui mô tương đối lớn, thí ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” (dẫn theo [27]). - Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế,.
bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [22]. - Theo Henry Fayol: "Quản lý là dự kiến, tổ chức, lãnh đạo, phối hợp và kiểm tra" [8]. Từ những định nghĩa trên, theo chúng tôi có thể hiểu: quản lý là những tác động có mục đích, tổ chức, kế hoạch của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý (đối tượng quản lý) nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức làm cho tổ chức vận hành (hoạt động) có hiệu quả, đạt mục tiêu đề ra. Những đặc trưng của quản lý là: + Là thuộc tính bất biến của mọi quá trình hoạt động xã hội - lao động; là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành và phát triển.
+ Hoạt động quản lý được thực hiện với một tổ chức hay một nhóm xã hội.