Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động KT, ĐG kết quả học tập của HS trƣờng THCS. Chương 2: Thực trạng hoạt động KT, ĐG kết quả học tập của HS và quản lý hoạt động KT, ĐG kết quả học tập của HS tại các trƣờng THCS trên địa bàn thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động KT, ĐG kết quả học tập của HS tại các trƣờng THCS trên địa bàn thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Kết luận và khuyến nghị 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề Hoạt động KT, ĐG chất lƣợng của HS là một khâu không thể thiếu trong quá trình dạy học và đƣợc hình thành từ rất sớm ở các quốc gia trên thế giới. Kiểm tra, đánh giá vừa là động lực, vừa là nhân tố nhằm nâng cao chất lƣợng dạy học trong nhà trƣờng. Việc thực hiện KT, ĐG ở mỗi giai đoạn lịch sử, mỗi quốc gia có sự khác nhau. Các hình thức KT, ĐG liên tục đổi mới, phù hợp với từng giai đoạn lịch sử, điều kiện phát triển xã hội, đặc điểm môi trƣờng giáo dục của mỗi quốc gia.
Trên thế giới, đầu thế kỉ XVI khi nghiên cứu về nguyên tắc dạy học, nội dung dạy học, phƣơng pháp dạy học lần đầu tiên trong lịch sử giáo dục, Johann Amos Comenius (1592–1670), đã xây dựng nên những khái niệm về một nền giáo dục hiện đại đang tồn tại trên thế giới hiện nay, đã chỉ ra một hệ thống giáo dục lý tƣởng mà ngày nay hầu hết các nƣớc trên thế giới đều áp dụng. Đó là sự phân cấp bậc học với trƣờng mầm non, tiểu học, trung học, trƣờng cao đẳng dạy nghề và đại học, có nội dung chƣơng trình thống nhất, thời gian đào tạo đƣợc ấn định. Ông lƣu ý việc KT, ĐG phải căn cứ vào mục tiêu học tập và hƣớng dẫn HS tự KT, ĐG kiến thức của mình. Cuối thế kỉ XVIII, trên thế giới, hình thức KT, ĐG chủ yếu vẫn là quan sát, vấn đáp và viết, trong đó kiểm tra viết chủ yếu theo lối tự luận.
Cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ, giáo dục ngày càng phát triển, đòi hỏi yêu cầu chất lƣợng giáo dục ngày một cao, do đó KT, ĐG ngày càng đóng vai trò quan trọng, việc đánh giá chất lƣợng của sản phẩm giáo dục đòi hỏi 7 phải nâng lên một tầm cao hơn, đánh giá một cách toàn diện hơn. Từ đó, hình thành thêm một hình thức KT, ĐG mới theo phƣơng pháp trắc nghiệm khách quan để đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội. Courtrs đã nghiên cứu về phƣơng pháp áp dụng hình thức thi, kiểm tra trắc nghiệm (TEST) để đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy của bài kiểm tra. Ở thế kỉ XIX, khoa học trên thế giới ngày càng phát triển, lĩnh vực kiểm tra đánh giá bằng hình thực trắc nghiệm phát triển mạnh, đánh dấu những mốc quan trọng nhƣ: Năm 1916 xuất bản bộ trắc nghiệm trí tuệ Stanford – Binet; năm 1923 bộ trắc nghiệm thành quả học tập Sanford Achievement Test ra đời; năm 1935 thành tựu khoa học công nghệ đo lƣờng chất lƣợng giáo dục đƣợc đƣa vào chấm trắc nghiệm bằng máy IBM; năm 1947 tổ chức Educational Testing Service (EST) ra đời.
Trắc nghiệm khách quan còn đƣợc nghiên cứu ở Liên xô từ năm 1962, ở Nhật Bản từ những năm 70 của thế kỷ XX. Có thể nói, khoa học đo lƣờng chất lƣợng giáo dục đƣợc hình thành từ rất lâu trên thế giới. Ở Việt Nam, các kỳ thi Nho học bắt đầu có từ năm 1075 dƣới triều Lý Nhân Tông và chấm dứt vào năm 1919 đời vua Khải Định. Trong 845 năm đó, đã có nhiều loại khoa thi khác nhau nhƣ thi Hƣơng, thi Hội, thi Đình, ở mỗi triều đại lại có những đặc điểm khác nhau, song trong các đời Lý, Trần, Hồ có một đặc điểm chung là các khoa thi đều do triều đình đứng ra tổ chức, chỉ đạo thi.
Đến những năm 70 của thế kỷ XX, các nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu về hệ thống lý luận quản lý giáo dục (QLGD), quản lý nhà trƣờng, quản lý chất lƣợng giáo dục; xây dựng cơ sở lý luận về hoạt động KT, ĐG và quản lý hoạt động KT, ĐG. Tại miền Nam, có công trình nghiên cứu của Dƣơng Thiệu Tống về “Trắc nghiệm và đo lƣờng thành quả học tập”. 8 Trong đó, ông đi sâu nghiên cứu những nguyên lý căn bản về đo lƣờng và đƣa ra nhận định: KT, ĐG phải dựa vào mục tiêu dạy học. Bên cạnh đó, ông còn chỉ ra những điểm khác biệt giữa phƣơng pháp luận đề và phƣơng pháp trắc nghiệm, cách sử dụng từng phƣơng pháp phù hợp với mục tiêu đánh giá [16].
Các tác giả Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt trong trong cuốn “Giáo dục học” tập 1, NXB Giáo dục 1987 đã đƣa ra cách thức thực hiện hệ thống các bƣớc của quá trình dạy học, ông cho rằng KTĐG có thể xem nhƣ một phƣơng pháp dạy học [4]. Trong giáo trình “Tổ chức quá trình dạy học đại học” của tác giả Lê Khánh Bằng năm 1993 đã nêu lên vai trò, ý nghĩa của hoạt động KT, ĐG kết quả học tập của HS đối với quá trình dạy học, các hình thức kiểm tra, cách chuẩn bị và tiến hành KT, ĐG. Tác giả Trần Bá Hoành trong cuốn “Đánh giá trong giáo dục” xuất bản năm 1997 cho rằng: “Việc kiểm tra, đánh giá không thể chỉ dừng lại ở yêu cầu cải thiện các kiến thức, rèn luyện các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích tư duy năng động sáng tạo, phát hiện sự chuyển biến về xu hướng hành vi của học sinh trước các vấn đề của đời sống gia đình và cộng đồng, rèn luyện khả năng phát hiện và đánh giá các vấn đề nảy sinh trong những tình huống thực tế”. Trong hội thảo khoa học “Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá trong dạy học” năm 2005 tại Huế và “KT, ĐG để phát huy tích cực của HS ở bậc trung học” năm 2006 tại thành phố Hồ Chí Minh, các nhà giáo dục đã đƣa ra thực trạng công tác KT, ĐG hiện nay.
Qua một số hƣớng nghiên cứu đã đề cập trên, có thể nhận thấy, hoạt động KT, ĐG luôn gắn liền với mục tiêu và nội dung đào tạo, là một khoa học đo lƣờng rất phức tạp, cần có đầu tƣ thích đáng mới có thể mang lại kết quả. Đặc biệt, các nhà giáo dục phải chú trọng đến công tác quản lý chất lƣợng hoạt động KT, ĐG. Trong những năm gần đây, bối cảnh phát triển kinh tế - xã 9 hội và hội nhập quốc tế của đất nƣớc đã tạo ra nhiều cơ hội và thách thức cho giáo dục Việt Nam có những bƣớc phát triển về quy mô và chất lƣợng. Với xu thế đó, các cơ sở giáo dục đã đƣa công tác quản lý hoạt động KT, ĐG kết quả học tập của HS vào mục tiêu đào tạo, coi đó là vấn đề mang ý nghĩa chiến lƣợc cần đƣợc nghiên cứu và đề ra những biện pháp cụ thể để giải quyết.
Các nhà QLGD đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo, các đợt tập huấn, thực hiện nhiều công trình khoa học nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động KT, ĐG. Chẳng hạn nhƣ các đề tài luận văn thạc sĩ nhƣ: “Quản lý hoạt động KT, ĐG kết quả học tập của HS các trƣờng THPT thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị” của tác giả Đặng Hoàng Quý, năm 2019; “Quản lý hoạt động KT, ĐG kết quả học tập của HS các trƣờng các trƣờng THCS, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh” của tác giả Phạm Thị Thúy Bình, năm 2016; “Quản lý hoạt động KT, ĐG kết quả học tập của học sinh các trƣờng các trƣờng THCS huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định” của tác giả Nguyễn Duy Nhất, năm 2019. Các tài liệu, công trình nghiên cứu trên đây có thể đƣợc xem nhƣ là tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu tiếp theo. Phần lớn các tài liệu nói trên đã tập trung đến việc hình thành kỹ năng, kỹ xảo trong công tác KT, ĐG và cách thức thực hiện quá trình KT, ĐG đạt hiệu quả.
Tuy nhiên, trên địa bàn thị xã Hoài Nhơn, chƣa có tác giả nào nghiên cứu về công tác quản lý hoạt động KT, ĐG kết quả học tập của học sinh THCS. Vì vậy, đây là vấn đề cần nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn, cấp thiết, nhằm góp phần cải thiện và nâng cao chất lƣợng giáo dục cấp THCS trên địa bàn thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. Các khái niệm cơ bản: 1. Quản lý Quản lý đƣợc định nghĩa là một công việc mà một ngƣời lãnh đạo học suốt đời không thấy chán và cũng là sự khởi đầu của những gì họ nghiên cứu.
Quản lý đƣợc giải thích nhƣ là nhiệm vụ của một nhà lãnh đạo thực thụ, nhƣng không phải là sự khởi đầu để họ triển khai công việc. 10 Xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, rất nhiều học giả trong và ngoài nƣớc đã có những quan điểm khác nhau về quản lý Khi đề cập đến vai trò quản lý, Mác đã viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự lãnh đạo chỉ đạo… Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng” [3, tr. Các tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Quản lý là tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra” [8,tr. Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc định nghĩa: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến đối tượng quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [9,tr.1] Tác giả Trần Kiểm quan niệm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất”.