Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động học tập của học sinh tiểu học Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động học tập của học sinh ở các trường tiểu học Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh ở các trường tiểu học Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.
Trên thế giới Giáo dục luôn là vấn đề muôn thuở của các quốc gia, mục đích của nó không những muốn truyền đạt cho các thế hệ sau những kinh nghiệm thực tế của người đi trước mà còn giúp tạo ra nguồn nhân lực hiệu quả cho đất nước phát triển. Vì vậy, trong nhà trường, hoạt động dạy học luôn được các nhà giáo dục quan tâm cải tiến nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục. Suy cho cùng, mọi cố gắng trong nhà trường đều hướng vào mục đích là giúp cho người học sinh (HS) có sự hiểu biết, nâng cao nhận thức, phẩm chất và hoàn thiện nhân cách, HS là đích đến cuối cùng của mọi vấn đề trong tổ chức trường học, vì vậy từ trong nước đến ngoài nước đã có rất nhiều tác giả nghiên cứu về hoạt động học tập và quản lý hoạt động học tập của HS, sau đây tác giả xin đơn cử một số nhà giáo dục đã có đề cập đến hoạt động học tập và quản lý hoạt động học tập của HS. Một số quan điểm của các nhà giáo dục trên thế giới như: Khổng Tử một triết gia lỗi lạc người rất coi trọng tính tích cực nhận thức của HS.
Theo ông, thầy giáo chỉ giúp học trò cái mấu chốt nhất, còn mọi vấn đề khác học trò phải từ đó mà tìm ra: “Không tức giận vì muốn biết thì không gợi mở cho, không bực vì không rõ thì không bày vẽ cho. Vật có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy ra ba góc kia thì không dạy nữa”, “đòi hỏi người học trò phải tập luyện, phải hình thành nề nếp, thói quen học tập”, “học không biết chán, dạy không biết mệt” (Nguyễn Đức Quang, 2013).Comenxki một nhà giáo dục học vĩ đại người Tiệp Khắc cho rằng việc dạy học là hướng dẫn cho HS biết cách tự mình tìm tòi, suy nghĩ để nắm bắt lấy bản chất của sự vật, hiện tượng. “Người học là trung tâm của mọi hoạt động dạy học trong nhà trường” (Nguyễn Đức Quang, 2013). 8 John Dewey một nhà sư phạm người Mỹ nổi tiếng đầu thế kỷ XX đã đưa ra một phương hướng canh tân giáo dục, ông yêu cầu bổ sung vào vốn tri thức của HS những tri thức ngoài sách giáo khoa và lời giảng của giáo viên (GV), đề cao hoạt động đa dạng của HS, đặc biệt là hoạt động thực tiễn.
Ông viết:“Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục”, ông quan niệm người học là trung tâm của mọi hoạt động của nhà trường, người học được khuyến khích học tập một cách tự chủ, tự chịu trách nhiệm với hoạt động học tập của mình. Hoạt động học tập là hoạt động của chính bản thân người học, trên cơ sở vận dụng kiến thức để đáp ứng các yêu cầu học tập, đó chính là mục tiêu học tập mà người học cần hướng đến, chứ không phải là chờ đợi thầy cô rót kiến thức vào tai (Dewey. Năm 1996, Chủ tịch Ủy ban UNESCO về Giáo dục cho thế kỷ XXI (UNESCO Commission on Education for the Twelty-First Century) Jacques Delors cho thế kỷ XXI đã công bố bản báo cáo “Học tập – Một kho báu tiềm ẩn”, báo cáo đã phân tích nhiều vấn đề giáo dục trong thế kỷ XXI, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của người học, cách học cần phải dạy cho thế hệ trẻ (Jacques Delors, 1996). Albert Einstein một khoa học gia và triết gia nổi tiếng của thế kỷ 20, đã nói rằng “hiểu biết về chân lý mà thôi thì không đủ; ngược lại hiểu biết này phải được liên tục làm mới lại bằng sự cố gắng không ngừng, nếu không kiến thức sẽ mất đi.
Giống như một bức tượng cẩm thạch đứng trong sa mạc và luôn bị nguy cơ vùi lấp trong gió cát. Những bàn tay chăm chút phải luôn hoạt động để giữ cho bức tượng tiếp tục tồn tại trong ánh thái dương”, với ông học tập phải là hoạt động được con người trau dồi liên tục với ý thức tự giác, nỗ lực không ngừng thì việc học mới thật sự đem lại kết quả, người học trở thành trung tâm của hoạt động học tập (Albert Einstein, 1950). Trong nước Một số tác giả tại Việt Nam cũng có nghiên cứu về lĩnh vực học tập của HS như: Đỗ Thị Châu đã có công trình nghiên cứu về “Kĩ năng tổ chức hoạt động học tập” ; Đặng Thành Hưng cũng có đề tài nghiên cứu về “Kĩ năng học tập hiện đại”; Nguyễn Cảnh Toàn nghiên cứu về “Học và dạy cách học”. Ngoài ra, các nhà giáo dục khác như: Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ, Trịnh Quang Từ, Nguyễn Ngọc Bảo và Hà Thị Đức, Võ Quang Phúc.
đã có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động học và tự học. Trong các công trình nghiên cứu của mình, các tác giả đã đề cập đến nhiều lĩnh vực liên quan đến công tác tổ chức hoạt động học, quản lý hoạt động học nhằm không ngừng phát huy tính sáng tạo, chủ động của người học, nâng cao chất lượng hoạt động quản lý của nhà trường (Nguyễn Hữu Châu, 2006), (Nguyễn Cảnh Toàn, 2001), (Đặng Thành Hưng, 2004), (Đỗ Thị Châu, 1995). Nhìn chung, các tác giả trong nước và ngoài nước đều xem hoạt động học tập là một bộ phận không thể tách rời hoạt động dạy – học, một thành phần không thể thiếu được của quá trình dạy học, mà đỉnh cao của nó là sự tìm tòi, tự khám phá của người học, vai trò của người thầy là người tổ chức, điều khiển quá trình học tập bảo đảm tuân thủ theo một chương trình, kế hoạch, thời gian và đạt được mục tiêu đề ra với hiệu quả cao nhất. Một số luận văn thạc sĩ đi trước cũng có quan tâm đến lĩnh vực này như luận văn của tác giả: Trà Thị Huỳnh Mai (2005), với đề tài “Thực trạng quản lý hoạt động học tập đối với sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Vĩnh Long”.
Đề tài đã khái quát các nội dung quản lý học tập, vai trò của chủ thể và khách thể quản lý hoạt động học tập, sự phối hợp giữa các chủ thể và cơ chế quản lý hoạt động học tập (Trà Thị Huỳnh Mai, 2005). 10 Trần Thị Tư (2003), với đề tài “Một số biện pháp của Hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng học tập cho học sinh trường Trung học phổ thông (THPT) huyện Châu Thành A, tỉnh Cần Thơ”; Luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục của Nguyễn Văn Đức (2010): Thực trạng quản lý hoạt động học tập của học sinh hiện nay ở một số trường trung học phổ thông tỉnh Long An. Đề tài đề cập đến vai trò của mục đích, động cơ, thái độ, phương pháp học tập đến kết quả học tập. Tác giả cũng nêu ảnh hưởng của nội dung, phương pháp giảng dạy và điều kiện, môi trường học tập đối với kết quả học tập.
Trong luận văn cũng có nêu một số lý luận quản lý hoạt động học tập nhưng chưa đi sâu vào từng giải pháp cụ thể và chưa thể hiện sự phát huy vai trò của từng bộ phận, cá nhân trong nhà trường và sự phối hợp sức mạnh tổng hợp các lực lượng giáo dục (Trần Thị Tư, 2003), (Nguyễn Văn Đức, 2010). Đinh Ái Linh (2006), với đề tài “Công tác quản lý hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên Đại học Quốc Gia TP.HCM”, luận văn đã xác định được những đặc trưng của công tác quản lý sinh viên, góp phần làm sáng tỏ thực trạng công tác quản lý hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên Đại học Quốc Gia TP.HCM, đồng thời chỉ ra những tồn tại và nêu lên một số biện pháp trong công tác tổ chức quản lý hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh (Đinh Ái Linh, 2006). Mai Tiến Dũng (2013) với đề tài luận văn thạc sĩ “Quản lý hoạt động học tập của học sinh trường THPT dân tộc nội trú tỉnh Tuyên Quang”. Đề tài đề cập đến một số lý luận về hoạt động học tập của học sinh trường THPT 11 dân tộc nội trú tỉnh Tuyên Quang, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động này nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học sinh của trường THPT dân tộc nội trú tỉnh Tuyên Quang (Mai Tiến Dũng, 2013).
Giang Hồng Thu (2015) với luận văn thạc sĩ “Quản lý hoạt động học tập của học sinh trường THPT trên địa bàn huyện Mường Ảng, tỉnh Điện Biên”, Trường Đại Học Giáo Dục. Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về quản lý và quản lý hoạt động học tập của học sinh trường THPT trên địa bàn huyện Mường Ảng tỉnh Điện Biên. Tác giả đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động học tập của học sinh THPT nhằm nâng cao chất lượng học tập của học sinh, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay (Giang Hồng Thu, 2015). Đặng Xuân Cảnh (2016) với luận án tiến sĩ “Quản lý hoạt động học tập của học sinh trường Dự bị đại học dân tộc đáp ứng yêu cầu tạo nguồn đào tạo cán bộ cho miền núi”, Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội.
Trên cơ sở nghiên cứu một cách hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động học tập của học sinh trường Dự bị đại học dân tộc. Tác giả đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động học tập đáp ứng yêu cầu tạo nguồn đào tạo cán bộ cho miền núi (Đặng Xuân Cảnh, 2016). Đoàn Út Bẩy (2017) với đề tài nghiên cứu “Quản lý hoạt động học tập của học sinh bán trú ở các trường THPT trên địa bàn huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang”, Trường Đại Học Giáo Dục. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động học tập của học sinh bán trú ở các trường THPT huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang, đề tài đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động này nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động học tập của học sinh bán trú, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy - học ở các trường THPT huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang (Đoàn Út Bẩy, 2017).