phần mở đầu, 3 chương nội dung, phần kết, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục. Chi tiết nội dung của luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường THCS Dữu Lâu, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường THCS Dữu Lâu, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Thuật ngữ Kỹ năng sống (KNS) đã bắt đầu được một số nhà tâm lý học đề cập đến từ cuối những năm 1960 và nhanh chóng xuất hiện trong một số chương trình hành động của các tổ chức lớn trên thế giới.
Năm 1995, Học viện tâm linh thế giới Brahma Kumaris thực hiện dự án quốc tế “Những giá trị sống” - một chương trình giáo dục các giá trị sống nhân dịp kỷ niệm 50 năm thành lập Liên hợp quốc nhằm “giáo dục những giá trị sống” cho thế hệ trẻ với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục, đó là: Hòa bình, tôn trọng, hợp tác, trách nhiệm, trung thực, khiêm tốn, giản dị, khoan dung, đoàn kết, tình yêu thương, tự do và hạnh phúc [31]. Hiện nay, trên khắp thế giới, nhờ có sự tài trợ của các tổ chức quốc tế như Tổ chức Y tế Thế giới WHO; Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên hợp quốc UNESCO; Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc UNICEF, các chương trình và nghiên cứu về KNS đã có mặt rộng rãi, kể cả các ở các nước đang phát triển như Kenya, Uganda [33], Iran, Malaysia [34]… góp phần trở thành một trong số các phương tiện hiệu quả giúp phát triển lối sống lành mạnh và phát triển thể chất, tâm lí cho đối tượng thanh thiếu niên [28-32, 34, 38, 39]. Năm 2012, Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc UNICEF đưa ra một báo cáo dài 177 trang đánh giá toàn diện các chương trình GDKNS trên toàn cầu, liệt kê các kỹ năng tâm lý xã hội thiết yếu tương tác giữa các cá nhân nói chung bên cạnh các kỹ năng tri thức như đọc viết, tính toán [40]. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Các nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, từ những năm 1995-1996, thuật ngữ “kỹ năng sống” được đề cập đến qua chương trình: “GDKNS để bảo vệ sức khoẻ và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường”. Đây là dự án của UNICEF phối hợp cùng Bộ Giáo dục và Đào tạo với Hội Chữ thập đỏ Việt Nam. Năm 2001, Dự án “Giáo dục sống khỏe mạnh, kỹ năng sống cho trẻ vị thành niên” được Bộ Giáo dục thực hiện với sự tài trợ của UNICEF nhằm giáo dục KNS cho học sinh phổ thông [22]. Năm 2003, UNESCO phối hợp với Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam tổ chức hội thảo “Chất lượng giáo dục và KNS”, từ đây giáo dục bắt đầu quan tâm đến GDKNS cho học sinh.
Năm 2003-2004, nghiên cứu về “GDKNS ở Việt Nam” triển khai bởi Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam phối hợp với UNESCO đã đưa ra tình hình nhận thức, thực trạng và định hướng hoạt động GDKNS ở Việt Nam [26]. Năm 2005, nhiều tài liệu, đề tài nghiên cứu về GDKNS trong nhà trường đã được tiến hành. Năm học 2010-2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có các công văn chỉ đạo về việc tăng cường thực hiện GDKNS trong tất cả các bậc học, từ mầm non, tiểu học, THCS, THPT đến giáo dục đại học. Bộ Giáo dục cũng xuất bản bộ tài liệu tích hợp GDKNS vào 5 môn học cụ thể: Sinh học, Ngữ văn, Địa lý, GDCD, hoạt động ngoài giờ lên lớp [15-19].
Từ đó đến nay Bộ Giáo dục liên tục ban hành các công văn hàng năm hướng dẫn triển khai thực hiện GDKNS tại các cơ sở giáo dục, chỉ rõ mục đích, yêu cầu và nội dung GDKNS cho học sinh cụ thể theo từng cấp học. Nhiều sách và giáo trình của niều tác giả và tổ chức tại Việt Nam cũng lần lượt ra đời, mang nội dung công phu và chi tiết về KNS và GDKNS: - Năm 2007, tác giả Nguyễn Thanh Bình viết giáo trình “Giáo dục kỹ năng sống” và “Bài viết tổng quan lịch sử nghiên cứu kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống”, đề cập những vấn đề đại cương về giáo dục kỹ 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năng sống cũng như lịch sử nghiên cứu kỹ năng sống cho học sinh [2, 3]; tác giả Nguyễn Quang Uẩn viết cuốn “Bài viết một số vấn đề lý luận về kỹ năng sống” [25]. - Năm 2009, cuốn “Những điều giáo viên cần biết để giáo dục kỹ năng sống và sức khỏe sinh sản vị thành niên” được Bộ Y tế ban hành [20]. - Năm 2010, tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc cùng nhiều cộng sự đã cho ra đời đồng thời 4 cuốn sách giá trị, hướng dẫn hoạt động giáo dục giá trị sống và KNS phù hợp các đặc điểm tâm sinh lý 4 cấp học: Mầm non, Tiểu học, THCS, THPT [8-11].
Cùng trong năm này, Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản cuốn sách “Hướng dẫn thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho học sinh phổ thông” của tác giả Nguyễn Dục Quang [14]. - Năm 2012, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam kết hợp với Tổ chức Hợp tác phát triển và Hỗ trợ kỹ thuật vùng Flamăng VVOB phát hành cuốn sách “Giáo dục kỹ năng sống cho trẻ vị thành niên” nhằm cung cấp tài liệu tham khảo cho Câu lạc bộ Nuôi dạy con tốt của hội [12]. Bên cạnh các cuốn sách và giáo trình công phu, rất nhiều luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ cũng được thực hiện, nghiên cứu về giáo dục giá trị sống và KNS cho nhiều cấp học khác nhau. Có thể kể đến một số nghiên cứu như: - Luận án Tiến sĩ của tác giả Phan Thanh Vân (2010): Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp [26].
- Luận án Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hiền (2018): Kỹ năng sống của học viên trường công an nhân dân [4]. - Luận văn của tác giả Phùng Thị Hoài Thương: Tổ chức phối hợp của huyện đoàn với nhà trường THPT thực hiện giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở huyện Gia Lâm hiện nay (2009) [24]. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Luận văn của tác giả Nguyễn Thị Loan (2010): Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường trung học phổ thông Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn [7]. - Luận văn của tác giả Nguyễn Ngọc Anh (2010): Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong trường tiểu học quận Hồng Bàng – Hải Phòng [1].
- Luận văn của tác giả Lê Văn Hùng (2011): Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên trường Cao đẳng Tài chính - Quản trị Kinh doanh [5]. - Luận văn của tác giả Nguyễn Thị Phi Nga (2013): Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh trường tiểu học Trần Phú, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội [13]. - Luận văn của tác giả Nguyễn Thị Hưng (2013): Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường Trung học cơ sở ở huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn hiện nay [6]. - Luận văn của tác giả Đinh Thị Thiên (2015): Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh các trường trung học cơ sở thành phố Hòa Bình [22].
- Luận văn của tác giả Đặng Thị Phương Thảo (2016): Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trường THPT Chương Mỹ A, Hà Nội [21]. - Luận văn của tác giả Phạm Văn Thìn (2016): Quản lý giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông ở quận Hồng Bàng, Hải Phòng [23]. - Luận văn của tác giả Ngô Thị Hải Yến (2017): Quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho học sinh ở trường THCS Yên Khê, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ [27]… Có thể thấy rằng lý do hàng loạt những nghiên cứu và tài liệu về GDKNS ra đời là một tất yếu trước đòi hỏi cấp thiết trong bối cảnh hiện nay, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khi KNS là một nội dung quan trọng của phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Thực tế đòi hỏi học sinh phải được trang bị và rèn luyện những KNS cơ bản để có thể tham gia vào cuộc sống đa dạng, thích nghi được với sự thay đổi của xã hội, thích nghi với nền kinh tế tri thức và thời đại 4.
Một số khái niệm cơ bản 1. Kỹ năng sống Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về KNS. Theo định nghĩa năm 1997 của Tổ chức Y tế Thế giới WHO, kỹ năng sống (life skills) là tập hợp các khả năng để có hành vi thích ứng (adaptive) và hành vi tích cực (positive), giúp các cá nhân có thể đối phó hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày, nói cách khác là khả năng tâm lý xã hội [36]. Theo Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc UNICEF, KNS là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới hướng đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kỹ năng [40].
Theo quan niệm đưa ra bởi Tổ chức UNESCO, KNS gắn liền với 4 trụ cột của giáo dục, đó là: - Học để biết (Learning to know): gồm các kỹ năng tư duy: tư duy phê phán và phản biện, khả năng nhận biết vấn đề và ra quyết định, khả năng nhận thức hậu quả… - Học để làm (Learning to do): gồm kỹ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ như kỹ năng làm việc độc lập, kỹ năng đặt mục tiêu và lên kế hoạch, đảm nhiệm trách nhiệm… - Học để làm người (Learning to be): gồm các kỹ năng cá nhân: đối phó với stress, kiểm soát cảm xúc, khả năng tự nhận thức, sự tự tin… 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Học để chung sống (Learning to live together): gồm các kỹ năng xã hội: khả năng giao tiếp, khả năng thương lượng, sự tự khẳng định, hợp tác, kỹ năng làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông…[14]tr6.