phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục; nội dung chính của luận văn được cấu trúc thành ba chương như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục giới tính ở các trường PTDTBT Tiểu học. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giới tính ở các trường PTDTBT Tiểu học huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giới tính ở các trường PTDTBT Tiểu học huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIỚI TÍNH Ở TRƢỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TIỂU HỌC 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứu trên thế giới Giáo dục giới tính cho học sinh là vấn đề được nhiều nước quan tâm. Ở các nước châu Âu, nơi có quan điểm về giới “thoáng” hơn châu vấn đề giáo dục giới tính được bàn đến từ khá sớm. Tại Liên xô (cũ) các nhà khoa học đã đưa ra nhiều quan điểm khoa học về việc giáo dục giới tính cho con người và coi đó là nội dung quan trọng cần phải giáo dục cho học sinh.
Do đó họ cũng đưa ra nhiều phương hướng trong việc giáo dục giới tính.l ênin cũng cho r ng: “Cùng với việc xây dựng chủ nghĩa xã hội thì vấn đề quan hệ giới tính và hôn nhân gia đình được coi là cấp bách”. Makarenco ( iên Xô cũ) đã khẳng định vai trò quan trọng và cấp thiết của giáo dục giới tính và đã đưa ra những nguyên tắc, nội dung và phương hướng giáo dục giới tính cho học sinh. Ông xem giáo dục giới tính là một mặt của giáo dục nhân cách toàn diện cho học sinh. Makarenco viết: “Đạo đức xã hội đặt ra những vấn đề về giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên.
Sinh hoạt giới tính của con người liên quan mật thiết với việc giáo dục về tình yêu, về đời sống gia đình tức là mối quan hệ giữa nam và nữ, mối quan hệ dần tới mục đích hạnh phúc của con người, không thể quên giáo dục loại tình cảm đặc biệt đó về giới tính” [dẫn theo 23]. Giáo dục giới tính ở Mỹ: Ngay từ bậc tiểu học, học sinh Mỹ đã được dạy về các cơ quan sinh dục, sự khác biệt giữa hai giới tính và sức khỏe sinh sản. Giáo viên cho học sinh xem những tranh v đàn bà và đàn ông khỏa thân, chỉ ra và giải thích cụ thể, rõ ràng về sự khác biệt rõ rệt nhất giữa nam và nữ là 6 ở bộ phận sinh dục. Họ dạy trẻ r ng, bộ phận sinh dục là những điều riêng tư, kín đáo nhất, không được để bất kỳ ai nhìn thấy hoặc chạm, sờ vào, trừ bác sĩ.
Ngoài ra, học sinh còn được dạy các kiến thức về sinh lý cơ thể như sự phát dục, quá trình mang thai, sinh đẻ, lớn lên của trẻ… Chương trình giáo dục không hề tục tĩu, người dạy và người học không hề ngại ngùng. Sau mỗi bài học, học sinh s biết quý trọng cơ thể, mạng sống của mình hơn, cũng như thêm yêu quý, tôn trọng những người khác giới. Do đó, theo các chuyên gia Mỹ, giới trẻ ở Mỹ có nhận thức rất đầy đủ về việc giáo dục giới tính và sức khỏe sinh sản. Quan hệ tình dục ở thanh thiếu niên Mỹ thường diễn ra khi đủ 18 tuổi và thường xuyên sử dụng các biện pháp ngừa thai an toàn và rất ít trường hợp mang thai ngoài ý muốn [22].
Tại Trung Quốc, khoảng những năm 1980, giáo dục giới tính được đưa vào giảng dạy trong hoàn cảnh Trung Quốc đã thay đổi tư duy tiếp cận về giới tính. Theo nhà xã hội học i inhe: "Trẻ em cần được giáo dục giới tính khi còn nhỏ. Chúng cần phải biết kiến thức cơ bản như sự khác biệt giới tính, vấn đề là các giáo viên cũng nên nói với trẻ những gì là đúng và những gì là sai trái về đạo đức tình dục và dạy các em để bảo vệ mình khỏi các cuộc tấn công tình dục" [3]. Giáo dục giới tính ở Nhật Bản: Một đất nước phương Đông nhưng cũng khá cởi mở với việc giáo dục giới tính và quan hệ tình dục là Nhật Bản.
Ngay từ khi học mẫu giáo, trẻ con ở Nhật đã được dạy cách sử dụng nhà vệ sinh và tự vệ sinh thân thể như sử dụng giấy vệ sinh, mặc đồ lót, vệ sinh cơ quan sinh dục. Tiếp đó, trước khi lên lớp 1, trẻ s được dạy về sự khác biệt giữa con trai và con gái. Những cuộc tranh luận cởi mở và có phần ngô nghê của các em nhỏ và giáo viên chính là cơ hội tốt để trẻ nhận thức đầy đủ về giới, về vai trò của giới và từ đó có ý thức tự bảo vệ bản thân mình. 7 Lên bậc tiểu học, các kiến thức về sinh sản được đưa vào giảng dạy.
Có hẳn những cuốn sách giáo khoa để nói về cơ thể của hai giới, về các bộ phận sinh dục và các kiến thức sinh sản một cách dễ hiểu và rõ ràng nhất cho học sinh. Ở mỗi độ tuổi, trẻ s được tiếp cận những kiến thức phù hợp nhất với sinh lý của mình. Ví dụ, trẻ tiểu học s được học về kinh nguyệt, chuyện mang thai và quá trình tạo ra em bé. Trẻ cấp 2 s được học về các biện pháp phòng tránh thai an toàn, các bệnh lây truyền qua đường tình dục.
Do đó, trước khi đủ độ tuổi trưởng thành, học sinh đã có những kiến thức, hiểu biết nhất định về giáo dục giới tính để tránh được những hậu quả không đáng có. Ngoài ra, với tình trạng ấu dâm đang xuất hiện ngày càng nhiều hiện nay, việc có kiến thức giới tính và biết cách tự bảo vệ mình trước kẻ xấu là điều vô cùng cần thiết và nên được trang bị từ sớm cho các em [22]. Như vậy, trên thế giới, từ phương Tây sang phương Đông, GDGT đã được quan tâm khá sớm. Tuy nhiên mỗi quốc gia có cách giáo dục riêng và phụ thuộc nhiều vào văn hóa, phong cách sống của người dân từng đất nước.
Vấn đề quản lý giáo dục giới tính cho học sinh cũng có sự khác biệt, ở phương Đông quản lý GDGT phần đa là theo khuôn mẫu, còn nặng về lý thuyết; còn ở phương Tây các nhà trường đã chủ động lựa chọn nội dung và hình thức giáo dục giới tính…tuy có sự khác biệt về cách quản lý và giáo dục nhưng cùng chung mục tiêu là hình thành ở thanh thiếu nhi những tiêu chuẩn đạo đức của hành vi có liên quan đến những lĩnh vực riêng tư, thầm kín nhất của đời sống con người, hình thành những quan hệ đạo đức lành mạnh giữa bạn trai và bạn gái, giữa nam và nữ. Tập trung vào khía cạnh giới tính của cá nhân, giúp cho thanh thiếu nhi có thái độ, có hiểu biết và suy nghĩ đúng đắn, lành mạnh về giới tính cũng như biết các cách thức để tự bảo vệ mình. Nghiên cứu trong nước Năm 1985, bắt đầu có những công trình nghiên cứu về giới tính và giáo dục giới tính, tình yêu, hôn nhân và gia đình và được thừa nhận. Nhiều nhà 8 khoa học có uy tín như: Trần Trọng Thuỷ, Đặng Xuân Hoài, Nguyễn Thị Đoan, Đức Uy, Phạm Hoàng Gia,… đã nghiên cứu những mặt, khía cạnh khác nhau về vấn đề giới tính và giáo dục giới tính ở Việt Nam bước đầu làm cơ sở cho việc giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên [29].
Đến năm 1988, được sự tài trợ của UNEPA (quỹ dân số Liên hiệp quốc) cùng với sự giúp đỡ kỹ thuật của UNESCO (tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa iên hiệp quốc) khu vực, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã giao cho Viện Khoa học giáo dục Việt Nam thực hiện đề án VIE/ 88/P09 với sự chỉ đạo của nhiều nhà khoa học như: Ngô Đặng Minh H ng, Trần Trọng Thuỷ. Đề án đó nghiên cứu sâu rộng các vấn đề như: Quan niệm về tình yêu, tình dục trong hôn nhân và ngoài hôn nhân; quan niệm về đời sống gia đình và kế hoạch hoá gia đình; nguyện vọng đối với việc học tập về đời sống gia đình. Vào những năm 80 của thế kỷ trước, một số công trình nghiên cứu của các Đề án cấp quốc gia như VIE/88/P09, VIE 88/P11 do tổ chức PATH CANADA tài trợ cùng nhóm nghiên cứu là các nhà khoa học tầm cỡ của Việt Nam đã xem việc giáo dục giới tính là vấn đề mấu chốt của giáo dục đạo đức đối với tuổi vị thành niên nói chung và học sinh cấp THCS nói riêng. Các dự án này chính thức đưa vào thực hiện rộng rãi trong các trường THCS từ năm học 1990-1991 và mở ra một bước quan trọng trong việc nghiên cứu, quy hoạch, xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên ở các cơ sở giáo dục trực tiếp làm công tác giáo dục giới tính.
Đội ngũ này phải là những người có phẩm chất, có năng lực trình độ chuyên môn, có tầm nhìn trong lĩnh vực giáo dục giới tính, nh m đáp ứng sự nghiệp giáo dục. Giáo dục giới tính bao gồm mối quan hệ giữa sự phát triển tình dục và nhân cách, thể chất và tinh thần của trẻ em. Việc giáo dục thông qua các hình thức lồng ghép vào một số bộ môn văn hóa, sinh hoạt nội khóa, ngoại khóa b ng các phương pháp dạy học tích cực và việc trao đổi kinh nghiệm để tìm ra những biện pháp tốt nhất cho việc giáo dục giới tính trong các trường phổ thông. 9 Đề án VIE 88/P09 chỉ ra r ng: "Vị thành niên và thanh niên là một giai đoạn trong cuộc đời con người.
Lớp thanh niên này được thông tri giáo dục về sức khỏe sinh sản - vị thành niên sẽ trưởng thành lên thành người lớn thì lại có một lớp vị thành niên mới cần được thông tri giáo dục về sức khỏe sinh sản-vị thành niên. Và vì vậy, nhu cầu về thông tin giáo dục sức khỏe sinh sản - vị thành niên là một nhu cầu thường xuyên, liên tục" [8]. Khoảng những năm 1990, ở Việt Nam đã có nhiều dự án quốc gia, nhiều đề tài liên kết với nước ngoài, với các tổ chức quốc tế nghiên cứu về giới tính và những vấn đề có liên quan như: Giáo dục sức khỏe sinh sản, giáo dục về tình yêu trong thanh thiếu niên và học sinh; giáo dục đời sống gia đình và giáo dục giới tính cho học sinh. Việc nghiên cứu giới tính và giáo dục giới tính đã được Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế và các bậc phụ huynh quan tâm nhiều hơn.