phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, trong luận văn gồm có các chƣơng sau: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận về quản lý hoạt động dạy học theo hƣớng trải nghiệm ở các trƣờng phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo hƣớng trải nghiệm ở các trƣờng phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo hƣớng trải nghiệm ở các trƣờng phổ thông dân tộc bán trú trung học cơ sở huyện Tủa Chùa tỉnh Điện Biên. 5 Chƣơng 1 QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO HƢỚNG TRẢI NGHIỆM Ở CÁC TRƢỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC BÁN TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Học qua thực hành, học gắn với hành là những tƣ tƣởng xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử tƣ tƣởng về giáo dục. Trong quan điểm giáo dục của các nhà tƣ tƣởng phƣơng Đông, phƣơng Tây, hoạt động trải nghiệm sớm đƣợc nghiên cứu ở những góc độ khác nhau. Ở phƣơng Đông, từ thời cổ đại, Khổng Tử đã đƣa ra quan điểm về phƣơng pháp giáo dục coi trọng thực hành, vận dụng.
Khổng tử đã nói:“Những gì tôi nghe, tôi sẽ quên. Những gì tôi thấy, tôi sẽ nhớ. Những gì tôi làm, tôi sẽ hiểu”. Đây đƣợc coi là một trong những nguồn gốc tƣ tƣởng đầu tiên của giáo dục trải nghiệm [34].
Ở phƣơng Tây, Aristotle (384-322 TCN) đã nói: “For things we have to learn before we can do, we learn by doing” (Với những gì chúng ta cần phải học trƣớc khi làm, chúng ta sẽ học thông qua hành) [35].A Cômenxki đƣa ra quan điểm về dạy học phải đảm bảo mối liên hệ với đời sống, giáo dục thông qua trò chơi, hoạt động ngoài lớp học, ngoài thiên nhiên. Crupxcaia (1869 - 1939) nhà tâm lý học, giáo dục học Xô Viết quan tâm đến giáo dục ở mọi mặt: Đức, trí, thể, mỹ, quân sự và giáo dục lao động, giáo dục kỷ luật tổng hợp. Bà cũng cho rằng phải tăng cƣờng các hình thức“giáo dục qua các hình thức hoạt động tập thể, như tham quan du lịch, cắm trại, lao động hè ở các nông lâm trường kết hợp với sinh hoạt văn hóa nghệ thuật” [24]. Chủ nghĩa Mác – Lênin khi bàn về giáo dục cũng cho rằng giáo dục phải gắn kết với lao động sản xuất.
David A Kolb (1984), trong cuốn Experiential Learning đã xây dựng lý thuyết về “Học từ trải nghiệm”. Kolb chỉ ra rằng “Học từ trải nghiệm là quá trình học theo đó kiến thức, năng lực được tạo ra thông qua việc chuyển hóa kinh nghiệm. Học từ trải nghiệm gần giống với học thông qua làm những khác ở chỗ là nó gắn với kinh nghiệm và cảm xúc cá nhân”. Từ giữa thế kỉ XX, John Dewey, nhà khoa học giáo dục nổi tiếng ngƣời Mĩ đã chỉ ra hạn chế của giáo dục nhà trƣờng và đƣa ra quan điểm về vai trò của kinh nghiệm trong giáo dục.
Dewey cho rằng, kinh nghiệm có vai trò to lớn trong giáo dục, nó giúp ngƣời học kết nối kiến thức với thực tiễn [37]. Những quan điểm trên đã tiếp cận dạy học thông qua hoạt động trải nghiệm ở nhiều góc độ khác nhau và khẳng định sự cần thiết, vai trò của kinh nghiệm, của trải nghiệm trong giáo dục. Những quan điểm này chính là cơ sở lý thuyết cho việc xây dựng hoạt động dạy học theo hƣớng trải nghiệm trong nhà trƣờng. Vận dụng quan điểm về giáo dục trải nghiệm, nhiều quốc gia trên thế giới đã đƣa học tập trải nghiệm vào chƣơng trình giáo dục và đạt đƣợc hiệu quả cao trong giáo dục.
Những nghiên cứu ở trong nước Trong tƣ tƣởng về giáo dục của Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh đã khẳng định phƣơng pháp để đào tạo nên những ngƣời tài đức là: “Học đi đôi với hành, GD kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”. Tác giả Đỗ Ngọc Thống trong bài viết “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo - kinh nghiệm quốc tế và vấn đề của Việt Nam” đã nghiên cứu mô hình dạy học trải nghiệm sáng tạo của Anh, Hàn Quốc. Từ đó, tác giả khẳng định, trải nghiệm sáng tạo là yêu cầu quan trọng trong chƣơng trình giáo dục phổ thông của nhiều quốc gia. Trong chƣơng trình giáo dục phổ thông của nhiều quốc gia, ngoài hoạt động dạy và học qua các môn học còn có chƣơng trình hoạt động 7 ngoài các môn học.
Đó là các hoạt động gắn với thực tiễn với nhiều hình thức phong phú, đa dạng, giúp học sinh vận dụng sáng tạo lý thuyết vào thực tiễn đời sống, phát triển các kỹ năng, phát triển cả thể chất và tinh thần. Về cách thức thực hiện hoạt động trải nghiệm, có nƣớc do nhà trƣờng tổ chức, có nƣớc do tổ chức xã hội kết hợp với nhà trƣờng tổ chức. Bài viết của tác giả Đinh Thị Kim Thoa, HĐTN sáng tạo góc nhìn từ lí thuyết và học từ trải nghiệm đã chỉ ra sự khác biệt giữa học đi đôi với hành, học thông qua làm và học từ trải nghiệm. Trong đó, “học từ trải nghiệm gần giống với học thông qua làm nhƣng khác ở chỗ là nó gắn với kinh nghiệm và cảm xúc cá nhân”.
[26] Tác giả Bùi Ngọc Diệp trong bài viết Hình thức tổ chức các HĐTN sáng tạo trong nhà trường phổ thông cũng đƣa ra quan niệm về HĐTN sáng tạo trong trƣờng THCS. Theo đó “Học sinh đƣợc chủ động tham gia vào tất cả các khâu của quá trình hoạt động: từ thiết kế hoạt động đến chuẩn bị, thực hiện và đánh giá kết quả hoạt động phù hợp với đặc điểm lứa tuổi và khả năng của bản thân; học sinh đƣợc trải nghiệm, đƣợc bày tỏ quan điểm, ý tƣởng; đƣợc đánh giá và lựa chọn ý tƣởng hoạt động, đƣợc thể hiện, tự khẳng định bản thân, đƣợc tự đánh giá và đánh giá kết quả hoạt động của bản thân, của nhóm mình và của bạn bè,…”. [8] Một số các nghiên cứu khác nhƣ: “Một số vấn đề về hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong chƣơng trình giáo dục phổ thông mới” của tác giả Lê Huy Hoàng; “Tổ chức hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo - giải pháp phát huy năng lực ngƣời học” của Nguyễn Thị Thu Hoài. Nhƣ vậy các công trình khoa học về lý luận và thực tiễn đều chỉ ra rằng phải tổ chức các hoạt động để HS đƣợc tham gia từ đó có môi trƣờng thể hiện những kiến thức khoa học và khái quát thành kinh nghiệm thực tiễn cho bản thân để có thể sống và sống tốt trong bối cảnh hiện nay.
Trong các công trình nghiên cứu ở trên, các tác giả đã tập trung làm sáng tỏ các vấn đề về vị trí, mục 8 tiêu, nội dung, các hình thức tổ chức và phân tích điểm mạnh, cách triển khai tổ chức các hoạt động trải nghiệm ở các nƣớc trên thế giới, từ đó rút ra các bài học vận dụng vào điều kiện Việt Nam. Năm 2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức Hội thảo “Hoạt động trải nghiệm sáng tạo của học sinh phổ thông”. Hội thảo đã có nhiều bài viết nghiên cứu các vấn đề về lý luận và thực tiễn vấn đề giáo dục trải nghiệm trên thế giới và ở Việt Nam. Năm 2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018, trong đó, hoạt động trải nghiệm trở thành một hoạt động giáo dục bắt buộc trong nhà trƣờng.
Mặc dù năm học 2021-2022 ở bậc THCS mới bắt đầu thực hiện Chƣơng trình giáo dục phổ thông 2018, song từ nhiều năm gần đây, việc dạy học theo hƣớng trải nghiệm cũng đã đƣợc các trƣờng phổ thông quan tâm, chú ý. Một số trƣờng tƣ thục thậm chí đã bắt đầu áp dụng mô hình này trong thực tế. Song song với đó, các dịch vụ giáo dục trải nghiệm (đƣợc cung cấp bởi các cơ sở ngoài trƣờng học nhƣ viện nghiên cứu, bảo tàng, trang trại giáo dục, công ty tổ chức sự kiện) cũng ngày càng phong phú. [36] Nhƣ vậy, hoạt động trải nghiệm là vấn đề mới ở Việt Nam song đã đƣợc các nhà giáo dục cũng đã quan tâm nghiên cứu ở nhiều nội dung: Khái niệm, ý nghĩa, vai trò của hoạt động trải nghiệm, sự vận dụng mô hình giáo dục trải nghiệm trên thế giới vào Việt Nam,.
Tuy nhiên, chƣa có công trình nghiên cứu toàn diện về việc "Quản lý hoạt động dạy học theo hƣớng trải nghiệm ở các trƣờng PTDTBT THCS huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên". Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường 1. Quản lý Theo Từ điển tiếng Việt “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định”.Taylor: “Quản lý là biết đƣợc chính xác điều bạn muốn ngƣời khác làm, và sau đó hiểu đƣợc rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”.
Theo Henry Fayol: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”. Ông còn khẳng định “Khi con ngƣời lao động hợp tác thì điều tối quan trọng là họ cần phải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành và các nhiệm vụ của mỗi cá nhân phải là mặt lƣới dệt nên mục tiêu của tổ chức”[Dẫn theo 7]. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [7]. Tác giả Trần Kiểm nêu rõ: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [18].
Từ những quan điểm trên, có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý thông qua các chức năng lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra nhằm xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động, sắp xếp, liên kết các bộ phận trong tổ chức, huy động các nguồn lực của tổ chức, làm cho tổ chức vận hành và đạt được những mục tiêu đã đề ra của tổ chức. Quản lý giáo dục Theo tác giả Kondakop M.