phần mở đầu, kết luận – kiến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục thì luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học Tiếng Anh tại Trung Tâm Ngoại Ngữ Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học Tiếng Anh tại Trung Tâm Ngoại Ngữ Hoàng Gia, Quận Tân Phú, Thành Phố Hồ Chí Minh. Chƣơng 3: Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học Tiếng Anh tại Trung Tâm Ngoại Ngữ Hoàng Gia, Quận Tân Phú, Thành Phố Hồ Chí Minh. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TIẾNG ANH TẠI TRUNG TÂM NGOẠI NGỮ 1. Sơ lƣợc tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.Những nghiên cứu ở ngoài nước Ở nhiều nƣớc trên thế giới, quản lý (QL) và quản lý hoạt động dạy học (QL HĐDH) đã đƣợc thực hiện từ lâu.
Lúc đầu chỉ là những ý tƣởng của các nhà triết học, dần dần những ý tƣởng ấy đã đƣợc phát triển theo từng giai đoạn lịch sử, có chắt lọc, phát huy và ngày một hoàn thiện hơn. Tác giả Penny Ur đã nghiên cứu về phƣơng pháp và kinh nghiệm trong việc giảng dạy ngôn ngữ. Theo Penny Ur, “ngƣời giáo viên khi tốt nghiệp trƣờng sƣ phạm chỉ mới đạt đƣợc điều kiện để đƣợc giảng dạy. Để đạt đƣợc kinh nghiệm và sự chuyên nghiệp, ngƣời giáo viên phải không ngừng học hỏi và trau dồi kinh nghiệm”.
(Penny Ur, 1988) Tƣ tƣởng của Taylor – ngƣời khởi tạo ra phong trào quản lý dựa theo khoa học đã đƣợc giới quản trị đánh giá rất cao khi ông cho rằng sử dụng quản lý và tổ chức từ không chuyên nghiệp sang chuyên nghiệp. Trong cuốn sách “Các nguyên tắc quản lý theo khoa học” xuất bản năm 1911, Taylor muốn đƣa hoạt động quản lý vào trật tự, hệ thống và logic gắn với các công việc nhƣ lập kế hoạch, chỉ đạo và tổ chức công việc. McMillan (1997), để đáp ứng tốt hơn cho việc giảng dạy thì ngƣời GV phải luôn học hỏi và bồi dƣỡng năng lực, sở trƣờng của mình về dạy học tiếng Anh cho dù đã đào tạo bài bản. Với quan điểm “việc dạy và học tiếng Anh nên tập trung vào mục tiêu đào tạo cho ngƣời học có động cơ, mục đích học tập, phát triển năng lực, tƣ duy sáng tạo để xây dựng thái độ học tập tích cực.
Để có thể thực hiện đƣợc điều này thì phải chú trọng vào việc quản lý con ngƣời và quản lý tài liệu giảng dạy”. Nhóm tác giả Ron White, Mervyn Martin, Mike Stimson, Robert Hodge (2003) cho rằng yếu tố quyết định và quan trọng nhất trong quá trình quản lý giảng dạy tiếng Anh chính là con ngƣời. Bên cạnh đó, còn cần phải chú trọng tổ chức quản lý phát triển và thay đổi tài liệu giảng dạy theo hƣớng đổi mới. 8 Liên quan đến công tác quản lý hoạt động dạy học, giáo dục trong nhà trƣờng nhóm tác giả gồm: Xukhomlinxki, Konđakôp, Zimin, Saxerđôtôp (1985) đã cho rằng khâu then chốt trong hoạt động quản lý trƣờng học chính là quản lý hoạt động dạy học.
Đồng thời, nhà trƣờng cần lựa chọn và bồi dƣỡng đội ngũ theo tiêu chuẩn nhất định. Trong quyển sách “Blended learning: using technology in and beyond the language classroom” - ―Học kết hợp – sử dụng công nghệ trong và ngoài lớp học ngoại ngữ‖ của nhóm tác giả Pete Sharma, Barney Barrett (2007). Nhóm tác giả đã đƣa ra quan điểm rằng: ―Blended learning — The Web: Using authentic materials, ELT materials (Extract, Load, and Transform), Electronic dictionaries, Office software, Interactive whiteboards, Portable devices, Computer-mediated communication, Creating and using your own resources‖. Tạm dịch là “Học kết hợp - Web: Sử dụng các tài liệu xác thực, ELT (Trích xuất, tải, chuyển đổi), từ điển điện tử, phần mềm văn phòng, bảng tương tác, thiết bị di động, giao tiếp qua máy tính, tạo và sử dụng tài nguyên của riêng bạn‖.
Có nghĩa là học tập phải vƣợt ra khỏi không gian của lớp học truyền thống, cần chú ý kết hợp các yếu tố công nghệ kỹ thuật, sử dụng các công cụ điện tử hiện đại, phải biết ứng dụng thành tựu của khoa học kỹ thuật vào trong giảng dạy và học tập nhằm mang lại kết quả học tập cao nhƣ mục tiêu đề ra. Trong “Learning teaching: the essential guide to English language teaching” – ― Những hướng dẫn cơ bản để dạy học Tiếng Anh‖ của Jim Scrivener (2011). Tác giả cho rằng “Learning Teaching is the essential guide for new teachers and is an invaluable resource for teacher training courses. It combines the basic principles of working in a language classroom with practical teaching advice, helping teachers plan and run successful activities, lessons and courses‖.
Tạm dịch: ―Nghiệp vụ sư phạm, hay học để dạy, là định hướng cần thiết cho giáo viên mới và là nguồn tài nguyên vô giá trong các khóa bồi dưỡng, đào tạo giáo viên. Đó là sự phối, kết hợp các nguyên tắc mang tính thực hiển để giúp GV biết cách vận hành, tổ chức các lớp giảng dạy ngôn ngữ. Từ đó, GV có định hướng để lập kế hoạch và điều phối thành công các hoạt động, tiết dạy và toàn khóa học‖. Tác giả cũng nhấn mạnh, để làm đƣợc điều đó thì: “Key Features:Video footages of experienced teachers in action demonstrates common teaching techniques, Demonstrations of common teaching techniques such as 9 error correction, giving instructions and eliciting,Updated material on technology covering the use of computers, interactive whiteboards and virtual learning environments‖ – thì yếu tố then chốt là các video dạy mẫu do những giáo viên giàu kinh nghiệm thực hiện, với minh họa cụ thể về những kỹ thuật dạy nổi trội nhƣ cách thức sửa lỗi sai, đƣa hƣớng dẫn và giải thích các hƣớng dẫn, cập nhật đa dạng các trang thiết bị công nghệ vào giảng dạy nhƣ máy tính, bảng tƣơng tác cũng nhƣ số hóa môi trƣờng học tập.
Tóm tắt tác phẩm ―Teaching languages to young learners‖ của tác giả Lynne Cameron, độc giả đã cho rằng ―This book develops readers’ understanding of what happens in classrooms where children are being taught a foreign language. It will offer readers a framework to structure thinking about children’s language training. The book gives practical advice on how to analyze and evaluate classroom activities, language use and language development‖. Tạm dịch là “Quyển sách này giúp độc giả hiểu về những hoạt động diễn ra trong các lớp học ngoại ngữ dành cho thiếu nhi, từ đó có góc nhìn tiệm cận hơn về việc giảng dạy ngôn ngữ cho trẻ nhỏ.
Tác giả cũng đã đưa ra lời khuyên thiết thực về cách phân tích và đánh giá các hoạt động trong lớp học ngôn ngữ của trẻ, về việc trẻ sử dụng ngôn ngữ cũng như việc phát triển ngôn ngữ của trẻ”. Tác phẩm “Second language teaching & learning” của tác giả David Nunan đã tập trung vào các nội dung “The conceptual basis of second language teaching and learning, the empirical basis of second language teaching and learning, from the traditional to the contemporary in second language teaching and learning, focus on language, focus on the learner, the learning process: listening, speaking, reading, writing”. Tạm dịch: ―Cơ sở lý luận của việc dạy và học ngôn ngữ thứ hai, cơ sở thực tiễn của việc dạy và học ngôn ngữ thứ hai, từ dạy học truyền thống đến dạy học hiện đại trong dạy và học ngôn ngữ thứ hai, tập trung vào ngôn ngữ, tập trung vào người học, quá trình của việc học các kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết‖. Quyển sách “Cooperative learning and second language teaching” của nhóm tác giả Ana Christina DaSilva Iddings, George M Jacobs, Steven G McCafferty cũng khá nổi tiếng trong lĩnh vực quản lý hoat động dạy học ngoại ngữ với nội dung cốt lõi của các chƣơng là ―Cooperative learning and second language classrooms: Roots of 10 cooperative learning in general education, connections between cooperative learning and second language learning and Teaching, issues in implementing cooperative learning; Teacher narratives: Cooperative learning in a multilingual kindergarten, using cooperative learning with primary school students, using cooperative learning to teach French at the secondary school level, implementing cooperative learning with secondary school students, integrating global education and cooperative learning in a university foreign language reading class‖.
Tạm dịch: “Áp dụng phương pháp phân nhóm trong dạy và học ngôn ngữ thứ hai: nguyên lý của phương pháp học theo nhóm trong giáo dục nói chung, mối tương quan giữa hoạt động nhóm và việc dạy-học ngôn ngữ thứ hai; những khó khăn khi áp dụng phương pháp dạy học theo nhóm; Chia sẻ thực tế từ các GV: dạy học theo nhóm tại các trường mầm non đa ngôn ngữ, dạy học theo nhóm với lứa tuổi HS tiểu học, dạy tiếng Pháp cho HS phổ thông theo nhóm, vận dụng phương pháp dạy học theo nhóm với người học đa quốc tịch và dạy kỹ năng đọc theo nhóm cho sinh viên đại học.‖ Bên cạnh đó, các vấn đề về liên quan đến quản lý giáo dục, nhà trƣờng và hoạt động dạy học đã đƣợc nhiều nhà khoa học nghiên cứu và hình thành các lí luận liên quan tới dạy học tiếng Anh và quản lý hoạt động dạy học Tiếng Anh. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu nhƣ: “Teaching English Cambridge University Press, 1995” của Adrian Doff; "English Brainstormers" của Jack Umstatter, "The Learner Centered Curriculum" của Nunan D; "Approaches and Methods in Language Teaching" của Richards, J. Nhìn chung, các nhà nghiên cứu ở nƣớc ngoài đã có những công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý giáo dục, nhà trƣờng và quản lý hoạt động dạy học Tiếng Anh.Những nghiên cứu trong nước Quản lý quá trình dạy học nhằm đảm bảo và nâng cao chất lƣợng đào tạo, đây cũng là mục tiêu của công tác quản lý giáo dục, là công tác chiếm rất nhiều thời gian cũng nhƣ đặt ra cho ngƣời quản lý rất nhiều khó khăn và thách thức. Có không ít các tác giả, các nhà quản lý giáo dục đã quan tâm về vấn đề này.
11 Quản lý chất lƣợng dạy học ngoại ngữ đặc biệt là Tiếng Anh trong thời kỳ chuyển đổi hội nhập của nƣớc ta nhƣ hiện nay là một vấn đề nhận đƣợc rất nhiều sự quan tâm. Ở Việt Nam, đã có rất nhiều rất nhiều tác giả đề cập đến vấn đề quản lý chất lƣợng giáo dục – đào tạo nói chung, vấn đề quản lý hoạt động dạy học các bộ môn nói riêng và đều có đề cập đến các khái niệm cơ bản, các nguyên tắc trong quản lý và tổ chức trƣờng học, trong đó QL HĐDH đƣợc đánh giá là một bộ phận quan trọng không thể thiếu của hoạt động quản lý giáo dục trong nhà trƣờng. Nhóm tác giả Hà Sĩ Hồ và Lê Tuấn (1987) đã khẳng định trong ―Những bài giảng về quản lý trường học”, quản lý QL HĐDH là nhiệm vụ quản lý nhà trƣờng, ngƣời hiệu trƣởng phải luôn biết cách kết hợp một cách hữu cơ quá trình dạy và học .