CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu Trong nhà trường, dạy học là hoạt động giữ vị trí trung tâm, chi phối mọi hoạt động khác và quyết định chất lượng giáo dục. Hoạt động dạy học bao gồm hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò. Hai hoạt động này song song tồn tại và phát triển trong cùng một quá trình thống nhất. Quản lý hoạt động dạy học thực chất là quản lý hoạt động học tập của học sinh và quản lý hoạt động dạy của giáo viên.
Học sinh là chủ thể hoạt động học tập. Tinh thần, thái độ, động cơ, phương pháp học tập quyết định trực tiếp kết quả học tập của người học. John Dewey (1859-1925), nhà sư phạm người Mỹ nổi tiếng đầu thế kỷ XX đã đưa ra một phương hướng canh tân giáo dục, ông yêu cầu bổ sung vào vốn tri thức của học sinh những tri thức ngoài sách giáo khoa và lời giảng của giảng viên, đề cao hoạt động đa dạng của học sinh, đặc biệt là hoạt động thực tiễn. Ông viết: Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục, nói không phải là dạy, nói ít hơn, chú ý nhiều đến việc tổ chức hoạt động của học sinh.
Vào thập niên 30 của thế k XX, nhà giáo dục nổi tiếng người Nhật ản Tsunesaburo Makiguchi (1871-1944) đã nhấn mạnh: “Giáo viên không bao giờ học thay cho học viên mà học viên phải tự mình học lấy. Nói khác đi, dù giáo viên có làm gì đi nữa thì mọi tri thức truyền thụ vẫn không có giá trị nếu họ không làm cho học sinh tự mình kiểm nghiệm và thực nghiệm những tri thức đó”. Việt Nam cũng có nhiều công trình nghiên cứu về lý luận và thực tiễn quản lý hoạt động dạy học của các nhà khoa học Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Xuân Thức… Các công trình ngiên cứu đã được xây dựng thành giáo trình giảng dạy ở các trường đại học trong đào tạo các trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ. 6 Trong quản lý giáo dục thì quản lý hoạt động dạy học được nhiều tác giả quan tâm, mỗi công trình nghiên cứu tác giả lại tiếp cận ở những góc độ khác nhau.
Một số tác giả nghiên cứu quản lý đội ngũ; quản lý hoạt động dạy của giáo viên; quản lý hoạt động học của học sinh; quản lý chất lượng dạy học; quản lý các hoạt động hỗ trợ dạy học… Tìm hiểu thực tiễn các công trình nghiên cứu Quản lý hoạt động dạy học ở trường tiểu học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiểu học theo chương trình đổi mới đối của phòng giáo dục đào tạo huyện Quế Võ - tỉnh Bắc Ninh (2008)/ Nguyễn Văn Nam, Đại học Sư phạm Hà Nội. Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiểu học theo chương trình đổi mới đối của phòng giáo dục đào tạo huyện Sóc Sơn – Hà Nội (2008)/ Ngô Văn Chức, Đại học Sư phạm Hà Nội. Biện pháp Hiệu trưởng quản lý hoạt động dạy học theo yêu cầu đổi mới giáo dục ở trường tiểu học thành phố Thái Bình - tỉnh Thái Bình (2008)/ Hà Thị Lân, Đại học Sư phạm Hà Nội. Quản lý HĐDH theo mô hình trường học mới Việt Nam ở các trường tiểu học trên địa bàn huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội (2015)/Phạm Ngọc Đức – Viện Quản lí giáo dục.
Về chủ đề quản lí hoạt động dạy học ở các trường tiểu học, THCS, THPT thời gian qua ở ĐHGD-ĐHQGHN cũng có nhiều luận văn thạc sỹ chọn làm đề tài nghiên cứu; tuy nhiên đề tài gắn với yêu cầu đổi mới GD chưa nhiều. Từ thực tiễn các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học ở trường tiểu học, đã có nhiều nghiên cứu nhưng thực tiễn quản lý phụ thuộc vào địa bàn, đơn vị trường học nên việc vận dụng các biện pháp còn hạn chế. Từ những tiếp thu lý luận về giáo dục, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, kết hợp với học tập kinh nghiệm quản lý của các đơn vị khác, tác giả quyết định nghiên cứu (khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động và công tác quản lý hoạt động dạy học ở trường tiểu học Nguyễn Thị Minh Khai, Quận Lê Chân, thành 7 phố Hải Phòng) từ đó đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động dạy học nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Một số khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm chung về quản lý 1. Khái niệm quản lý Quản lý là một hoạt động xuất hiện từ lâu trong xã hội loài người và hoạt động ngày càng phát triển trong xã hội. Những tác động tổ chức, chỉ đạo, điều khiển… các hoạt động của con người nhằm thực hiện những mục tiêu chung là những dấu hiệu đầu tiên của quản lý. Định nghĩa - Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống: Quản lý là phương thức tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên hệ thống bao gồm hệ các quy tắc ràng buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì tính trội hợp lý của cơ cấu và đưa cơ cấu sớm đạt mục tiêu - Theo quan điểm điều khiển học: Quản lý là quá trình điều khiển của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu đã định.
- Theo quan điểm kinh tế học: Quản lý là sự tính toán, sử dụng hợp lý các nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến” [28,tr.24] Theo tác giả Phạm Minh Hạc: "Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể của người lao động nói chung (khách thể quản lý) nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến" [15]. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Hoạt động quản lý là các tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. Hay gọn hơn và được định nghĩa rõ hơn: Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận 8 dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra [11, tr 9].
Thuật ngữ “quản lý” thường được hiểu theo nhiều cách khác nhau tuỳ theo góc độ khoa học khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu. Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên. Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dưới góc độ riêng của mình và nó phát triển ngày càng sâu rộng trong mọi hoạt động của đời sống xã hội. Quản lý còn là khái niệm rộng bao gồm nhiều lĩnh vực.
Mỗi một lĩnh vực có một hệ thống lý luận riêng: các nhà kinh tế thiên về quản lý nền sản xuất xã hội, các nhà luật học thiên về quản lý nhà nước, các nhà điều khiển học thiên về quan điểm hệ thống. Cho nên khi đưa ra các định nghĩa về quản lý, các tác giả thường gắn với các loại hình quản lý cụ thể hoặc phụ thuộc nhiều vào lĩnh vực hoạt động hay nghiên cứu của mình. Nhưng bất cứ một tổ chức, một lĩnh vực nào, từ sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân, của một doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự nghiệp, đến một tập thể nhỏ như tổ chuyên môn, tổ sản xuất, bao giờ cũng có hai phân hệ: Người quản lý và đối tượng được quản lý. Đó là một loại hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung.
Vì vậy, những nhà quản lý phải luôn luôn mềm dẻo, linh hoạt để vận dụng những nguyên tắc quản lý khác nhau trong từng lĩnh vực và tình huống cụ thể cho phù hợp nhằm đạt được hiệu quả quản lý cao nhất. Ngày nay nhiều người cho rằng: Quản lý chính là do một hoặc nhiều người điều phối hành động của người khác nhằm thu được kết quả mong muốn. Quản lý là một khoa học và là một nghệ thuật. Quản lý là một khoa học, vì có đối tượng nghiên cứu, có một hệ thống lý thuyết, có một hệ thống phương pháp luận và có ứng dụng rộng rãi.
Quản lý là chức năng vốn có của mọi tổ chức, là một khoa học liên ngành vì nó sử dụng tri thức của nhiều khoa học khác nhau: tâm lý học, xã hội học, quản trị học, tin học… 9 Quản lý là một nghệ thuật, vì đây là hoạt động đặc biệt, hoạt động này đòi hỏi phải được vận dụng một cách khéo léo, linh hoạt vào những tình huống rất đa dạng, trong những điều kiện không gian thời gian, hoàn cảnh, đặc điểm khác nhau. Ai cũng có thể học quản lý nhưng không phải ai cũng có thể thành công trong lĩnh vực này… thuật ngữ quản lý được dùng khá phổ biến, nhưng chưa có định nghĩa thống nhất. Tuy vậy, từ những cơ sở trên, chúng ta thấy khái niệm quản lý có thể hiểu một cách khái quát như sau: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể lên khách thể bằng việc vận dụng những tri thức, kỹ năng nhằm khai thác có hiệu quả các tiềm năng và cơ hội của hệ thống tổ chức nhằm đạt được mục tiêu dự kiến. Quản lý giáo dục Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hoá dân tộc và nhân loại được kế thừa, bổ sung trên cơ sở đó mà xã hội loài người không ngừng tiến lên.
Quản lý giáo dục là một loại hình quản lý xã hội. Vậy quản lý giáo dục là quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã hội. Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn.