Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 1. Quản lý Thuật ngữ “Quản lý” có rất nhiều định nghĩa khác nhau trong các từ điển và trong nhiều lĩnh vực khoa học (tâm lý học, giáo dục học, quản lý giáo dục,.
Trong quá trình hình thành và phát triển lý luận quản lý, thuật ngữ quản lý được các nhà nghiên cứu đưa ra theo nhiều cách tiếp cận khác nhau. Từ những luận điểm trên phản ánh những mặt, những nội dung cơ bản của chức năng quản lý. Về cơ bản, các quan niệm đều hướng đến chủ thể, đối tượng quản lý, nội dung, phương thức và mục đích của quá trình quản lý. - Về quản lý Từ điển tiếng Việt (1990) đã nêu: “Quản lý là trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định” [31, tr.
- Từ điển tiếng Việt thông dụng cũng đã nêu về quan niệm quản lý là: “Quản lý là tổ chức, điều khiển hoạt động một đơn vị, một cơ quan” [33]. - Từ điển Giáo dục học của nhóm tác giả Vũ Văn Tảo, Bùi Hiền, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh (2001) có nêu khái niệm quản lý: “Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Mác: “Quản lý là lao động điều khiển lao động. Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô khá lớn, đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân,.
Một nhạc sĩ độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng” [5 tr. Mác coi quản lý như là một kết quả tất nhiên và quản lý đóng vai trò quan trọng trong quá trình làm việc gồm nhiều khâu phối hợp lại. Quản lý là một dạng lao động đặc biệt, điều khiển các hoạt động lao động, nó có tính khoa học và nghệ thuật cao, nhưng đồng thời nó là sản phẩm có tính lịch sử, tính đặc thù của xã hội. Ông là người đầu tiên nêu một cách rõ ràng các yếu tố của quá trình quản lý, cách thức phân tích một quá trình quản lý phức tạp thành các chức năng tương đối độc lập và mang tính phổ biến gồm các chức năng: dự đoán - lập kế hoạch; tổ chức; điều khiển; phối hợp; kiểm tra.
Jones và Jennifer M. George (2003), cho rằng: “Quản lý là hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra tài nguyên nhân sự và các tài nguyên khác nhằm hoàn thành có kết quả và có hiệu quả mục tiêu của tổ chức” [12, tr. - Theo tác giả Vũ Dũng (2017) quan niệm: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể quản lý đến khách thể của nó” [8, tr. - Phân tích ở góc độ quản lý giáo dục, tác giả Nguyễn Ngọc Quang (1989) có nêu: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến” [26, tr.
- Theo quan điểm tác giả Phạm Viết Vượng (2010) khi nói về quản lý: “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan” [35, 2010]. - Tác giả Phan Văn Kha (1999), khái niệm quản lý trong hoạt động giáo dục được hiểu là: “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định” [20, tr. - Theo các tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2010): “Quản lý là hoạt động có định hướng có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [7]. - Theo các tác giả Nguyễn Lộc, Mạc Văn Trang, Nguyễn Công Giáp (2009): “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt được các mục tiêu của nó” [22, tr.
13 Nhìn chung, các quan niệm trên đây, tuy khác nhau, song các tác giả đã có cách hiểu chung về một số nội dung của quản lý là: Quản lý bao giờ cũng là quản lý con người được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội; quản lý là những tác động có tính hướng đích; quản lý là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt mục tiêu của tổ chức. Đây là thể hiện mối quan hệ của chủ thể quản lý và đối tượng quản lý; quản lý là hoạt động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với những qui luật khách quan và hoạt động tự giác của con người; quản lý là một hoạt động mang tính tất yếu của xã hội. Chủ thể quản lý và khách thể quản lý luôn có tác động qua lại và chịu tác động của môi trường. quản lý vừa là khoa học, vừa là một nghệ thuật.
Vì vậy, người quản lý ngoài những yêu cầu về trình độ, năng lực, phẩm chất còn phải nhạy cảm, linh hoạt trong công tác lãnh đạo. Từ những điểm chung của các định nghĩa trên, có thể hiểu: Quản lý là tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên khách thể và đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra và làm cho tổ chức vận hành có hiệu quả. Từ định nghĩa nêu trên ta thấy: Quản lý là quá trình tác động có mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, kiểm tra đánh giá của chủ thể quản lý đến khách thể, đối tượng quản lý; quản lý là nhằm đạt được mục tiêu đã định theo ý chí của nhà quản lý; quản lý là làm cho tổ chức vận hành có hiệu quả thông quá các chức năng: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá công việc của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực sẵn có của tổ chức. Các chức năng quản lý: Chức năng quản lý được quy định một cách khách quan bởi sự tác động của chủ thể quản lý và đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Chức năng quản lý có nhiều quan niệm khác nhau như: - Theo Koontz, O’donnel, Weihrich (1998) đã đề ra các chức năng quản lý, trình bày (Harold Koontz, Cyril Odonnell, Heinz Weihrich, 1998). gồm: Chức năng kế hoạch hóa; Chức năng tổ chức; Chức năng chỉ đạo; Chức năng kiểm tra, đánh giá. - Theo Trần Khánh Đức (2014), các chức năng cơ bản của quản lý bao gồm dự báo, lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo, lãnh đạo, giám sát, kiểm tra, đánh giá, trong quá trình quản lý được thực hiện liên tiếp, đan xen vào nhau, phối hợp và bổ sung cho nhau tạo thành một chu trình quản lý. 14 Mối liên hệ giữa các chức năng quản lý được thể hiện qua sơ đồ sau: Môi trường bên ngoài Mục tiêu của tổ chức Dự báo/lập kế hoạch Tổ chức Nhà quản lý Công việc – Nhân sự Kiểm tra/đánh giá Chỉ đạo/lãnh đạo Các nguồn lực của tổ chức Sơ đồ 1.
Mối liên hệ giữa các chức năng quản lý - Tác giả Nguyễn Lộc (2010) cho rằng nhiều chuyên gia quản lý nhất trí cho rằng có bốn chức năng quản lý cơ bản: lập kế hoạch; tổ chức thực hiện; chỉ đạo; kiểm tra và đánh giá. Tuy nhiên, để các chức năng quản lý trên đạt được các mục tiêu, hiệu quả cao nhất của tổ chức, cần phải đảm bảo các điều kiện nhất định như: Nguồn lực con người, nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực thông tin,. được mô hình hóa như sau: Đạt được mục tiêu tổ chức một cách hiệu quả Nguồn lực con người Nguồn lực tài chính Nguồn lực vật chất Nguồn lực thông tin Lập kế Tổ Lãnh Kiểm hoạch chức đạo tra Sơ đồ 1. Mối quan hệ giữa các góc độ khác nhau của quản lý 15 Như vậy, chức năng quản lý được quy định một cách khách quan bởi sự tác động của chủ thể quản lý và đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra.
Xét theo góc độ quá trình thực hiện công việc, quản lý có 4 chức năng cơ bản là 4 khâu liên quan mật thiết với nhau. Quản lý hoạt động dạy học ở các trường TH được xây dựng dựa trên các chức năng cơ bản của công tác quản lý. Quản lý hoạt động dạy học ở các trường TH là quá trình gồm các chức năng như sau: Lập kế hoạch; Tổ chức; Lãnh đạo; Kiểm tra, đánh giá. (1) Lập kế hoạch Lập kế hoạch là chức năng đầu tiên của quá trình quản lý bởi nó xác định giai đoạn cho các chức năng tiếp theo.
Đây là chức năng cơ bản nhất, chức năng này định hướng toàn bộ các hoạt động của cả quá trình quản lý, là cơ sở để nhà quản lý huy động tối đa các nguồn lực phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu, là căn cứ để quá trình thực hiện mục tiêu và là căn cứ để quá trình thực hiện nhiệm vụ của tổ chức tại đơn vị mình. Đó chính là quá trình quyết định một cách chính xác những mục tiêu đề ra, điều đó sẽ tạo nền tảng vững chắc cho các nỗ lực quản lý tiếp theo trong giai đoạn tổ chức - bố trí các nguồn lực để hoàn thành các nhiệm vụ cơ bản; lãnh đạo - chỉ đạo nỗ lực nguồn nhân lực để đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ ở mức độ cao; kiểm tra - giám sát việc thực hiện nhiệm vụ và đưa ra những hành động điều chỉnh cần thiết (Nguyễn Lộc [22, tr.