Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Lịch sử và Địa lý theo hướng trải nghiệm ở các trường trung học cơ sở. Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Lịch sử và Địa lý theo hướng trải nghiệm ở các trường trung học cơ sở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Lịch sử và Địa lý theo hướng trải nghiệm ở các trường trung học cơ sở huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN LỊCH SỬ VÀ ĐỊA LÝ THEO HƢỚNG TRẢI NGHIỆM Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Những nghiên cứu về dạy học theo hướng trải nghiệm và dạy học môn Lịch sử và Địa lý theo hướng trải nghiệm Các nghiên cứu về dạy học theo hướng trải nghiệm Trên thế giới, trong cuốn sách “Phương pháp tiếp cận lớp học đồng ruộng” của tổ chức Liên hợp quốc (FAO) năm 2010 đã đề cập đến việc dạy học trên cánh đồng cho người nông dân ở vùng Đông Phi. “Nội dung đề cập đến việc dạy nghề nông nghiệp dựa trên kinh nghiệm của người nông dân. Lớp học được tổ chức tại nơi làm việc với hình thức nhóm, thảo luận, trao đổi kinh nhiệm để giải quyết vấn đề dưới sự hướng dẫn của kĩ thuật viên” [8 tr.
John Dewey (1859-1952) được đánh giá là nhà lí luận giáo dục có ảnh hưởng nhất của thế kỉ XX đã đưa ra quan niệm “học qua làm, học bắt đầu từ làm”, “dạy học tốt nhất là sự học tập trong cuộc sống, con người không ngừng thu lượm kiến thức và cải tổ kiến thức thành kinh nghiệm nên trẻ em phải học trong chính cuộc sống xã hội”. Theo quan niệm của John Dewey, “dạy học phải giao việc cho HS làm chứ không phải giao vấn đề cho HS học. Những tri thức HS đạt được thông qua làm mới là tri thức thật vì vậy ông chủ trương đưa ra các loại bài tập về nghề làm vườn, nghề dệt, nghề mộc… vào nhà trường. Đây là những bài tập có khả năng phát triển hứng thú và năng lực vừa cho HS kinh nghiệm từ thực tiễn.
Phân tích vai trò của kinh nghiệm, ông cho rằng trẻ em học hỏi từ kinh nghiệm là hết sức cần thiết, giúp cho các em giải quyết những khó khăn trong các tình huống mà trẻ sẽ gặp trong cuộc sống hàng ngày. Nghĩa là trẻ tự điều chỉnh hành vi trên cơ sở kinh nghiệm có trước và hình thành kinh nghiệm mới” [31]. Như vậy, John Dewey là người đề cao kinh nghiệm cá nhân 6 trong hoạt động học tập, học tập là quá trình kết hợp kinh nghiệm với kiến thức HS tiếp thu được thông qua quan sát và hành động. Trong công trình Kinh nghiệm và giáo dục, Dewey đã làm sáng tỏ “ý nghĩa của kinh nghiệm cá nhân và mối quan hệ giữa kinh nghiệm cá nhân người học với hoạt động dạy học”.
Tác giả đưa ra triết lí dạy học đề cao vai trò của kinh nghiệm, Dewey cũng chỉ ra rằng “những kinh nghiệm có ý nghĩa giáo dục giúp nâng cao hiệu quả dạy học bằng cách kết nối người học và những kiến thức được học với thực tiễn. Nhà trường phải có nhiệm vụ tạo ra những điều kiện tốt nhất để người học phát huy tối đa năng lực của mình, tạo dựng kiến thức cho mình bằng toàn bộ công cụ của chính mình như: đôi mắt, đôi tai, đôi tay, đôi chân và đặc biệt là tư duy” [31]. Nhà trường và GV cần tạo ra một môi trường để HS có thể phát triển toàn diện khả năng của mình khi tham gia vào đời sống xã hội. HS tự tìm ra kiến thức, kĩ năng thông qua “kinh nghiệm”, “tư duy” và “trải nghiệm” của chính bản thân, HS được khuyến khích tham gia các hoạt động học tập một cách chủ động, sáng tạo.
David Kolb (sinh năm 1939) là một học giả người Mỹ, được biết đến như một nhà nghiên cứu về lí thuyết giáo dục đã có sự kế thừa và phát triển lí thuyết HĐTN của các tác giả đi trước, “học tập là một quá trình mà ở đó tri thức được tạo ra thông qua sự biến đổi, chuyển hóa kinh nghiệm”. Đó là quá trình “người học thông qua hành động tạo ra tri thức mới trên cơ sở trải nghiệm thực tế”. Kolb đưa ra 6 đặc điểm của quá trình học từ trải nghiệm: “Việc học tốt nhất cần chú trọng đến quá trình chứ không phải kết quả; Học là một quá trình liên tục trên nền tảng kinh nghiệm; Học tập đòi hỏi việc giải quyết xung đột giữa lí thuyết với thực tiễn cuộc sống; Học tập là một quá trình thích ứng với thực tiễn cuộc sống; Học tập là sự kết nối giữa con người với môi trường; Học tập là quá trình kiến tạo ra tri thức, là kết quả của sự chuyển hóa giữa kiến thức xã hội và kiến thức cá nhân” [32]. Đóng góp lớn nhất của Kolb là đưa ra mô hình học tập trải nghiệm gồm 4 giai đoạn.
Quá trình học tập trải nghiệm diễn ra từ giai đoạn 1 đến giai đoạn 4 và bắt đầu trở lại ở 7 giai đoạn 1, quá trình học luôn tiếp diễn một cách liên tục và nhịp nhàng trên cơ sở những thành tựu, kết quả đã thu được. Điểm cốt lõi trong lí thuyết học tập trải nghiệm của Kolb là người học cần thiết phải có sự phản ánh, tức là sự trở lại của tư duy trong ý thức, hướng đến các kinh nghiệm của mình, phân tích khái quát hóa chúng thành khái niệm, sau đó đem khái niệm này áp dụng, kiểm nghiệm trong thực tế. hình thành kiến thức, kĩ năng mới trở thành nội dung cho vòng học tập tiếp theo cho đến khi việc học đạt được mục tiêu đề ra. Nói cách khác, học tập trải nghiệm là sự hình thành các kinh nghiệm mới bằng sự tương tác giữa kinh nghiệm đã có với những hiểu biết thu được, nhờ sự phản ánh của chủ thể trong hành động theo một chu trình khép kín.
Từ năm 1984 đến nay, từ mô hình học tập trải nghiệm trên, David Kolb cùng một số tác giả khác đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến học tập trải nghiệm, tập trung vào các lĩnh vực khác nhau như: kinh tế, giáo dục, văn hóa,. Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, có thể kể đến công trình nghiên cứu sau: “Phong cách học tập và không gian học: Tăng cường học tập trải nghiệm trong giáo dục đại học” (Learning Styles and Learning Spaces: Enhancing Experiential Learning in Higher Education) (2005) của Kolb, KY, Kolb, DA: Các tác giả đã giới thiệu khái niệm về “không gian học tập như là một khuôn khổ cho sự hiểu biết giữa việc học tập của HS và môi trường thực tiễn, minh họa việc học tập trong khuôn khổ sử dụng một không gian nhất định và trình bày các nguyên tắc cho việc tăng cường học tập trải nghiệm trong giáo dục đại học. Bên cạnh đó, các tác giả cũng đề nghị học tập trải nghiệm có thể được áp dụng trong suốt quá trình giáo dục cho các chương trình phát triển, bao gồm: việc đánh giá, việc giảng dạy, việc đào tạo HS, bồi dưỡng giảng viên ở trường đại học” [32]. Vào cuối thế kỉ XX, các tác giả Guy Brauseau, Claude Comiti… của Viện Đào tạo GV (IUFM) ở Gremnoble (Pháp) đã đưa ra cấu trúc dạy học gồm 4 yếu tố: “người dạy - người học - nội dung - môi trường”.
Trong đó môi trường là 8 yếu tố quan trọng nhất, ở đó GV tạo ra những tình huống dạy học, còn HS dựa trên kinh nghiệm đã có tham gia giải quyết tình huống thực tế để từ đó hình thành tri thức. “Cơ chế tác động giữa vai trò chủ đạo của thầy và sự tương tác kinh nghiệm của trò với môi trường góp phần thúc đẩy hoạt động của trò”. Cuốn sách “Phương pháp tiếp cận lớp học đồng ruộng” của tổ chức Liên hợp quốc (FAO) năm 2010 đã đề cập đến việc dạy học trên cánh đồng cho người nông dân ở vùng Đông Phi. “Nội dung đề cập đến việc dạy nghề nông nghiệp dựa trên kinh nghiệm của người nông dân.
Lớp học được tổ chức tại nơi làm việc với hình thức nhóm, thảo luận, trao đổi kinh nhiệm để giải quyết vấn đề dưới sự hướng dẫn của kĩ thuật viên” [dẫn theo 8]. Ở Việt Nam, tác giả Phạm Thị Thu Hương (Chủ biên) trong cuốn “Giáo trình thực hành dạy học trải nghiệm ở trường phổ thông” đã đưa ra mẫu số chung về hoạt động trải nghiệm “đa dạng, phong phú, mềm dẻo, linh hoạt, mở về không gian, thời gian, quy mô, đối tượng và số lượng” đồng thời “học sinh có nhiều cơ hội trải nghiệm cá nhân” và có nhiều lực lượng tham gia chỉ đạo với các mức độ khác nhau [15]. Nguyễn Thị Dung (2019), trong luận án Hoạt động trải nghiệm trong dạy học Tiếng Việt cho học sinh lớp 4, 5 [8] đã bổ sung lí luận về phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học qua việc lựa chọn, hệ thống những tri thức quan trọng của HĐTN và đề xuất các yêu cầu, xây dựng quy trình, cách thức tổ chức HĐTN vào thực tiễn dạy học tiếng Việt cho HS lớp 4, 5. Khẳng định khả năng, hiệu quả của việc tổ chức HĐTN trong dạy học tiếng Việt giúp HS hiểu và vận dụng được kiến thức vào quá trình học tập nhằm hướng tới phát triển các phẩm chất, năng lực, đồng thời kích thích tính tích cực chủ động và hứng thú học tập của HS, góp phần nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt.
Các nghiên cứu về dạy học môn Lịch sử và Địa lý theo hướng trải nghiệm Đề tài “Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo với di tích ở huyện Gia Lâm trong dạy học Lịch sử Việt Nam lớp 7 - Trung học sơ sở” của tác giả Đào 9 Mỹ Hằng. Trong luận văn, tác giả đã nghiên cứu cơ sở lí luận liên quan đến trải nghiệm sáng tạo cho học sinh, đồng thời xây dựng quy trình tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo với di tích phù hợp với các điều kiện các trường THCS huyện Gia Lâm [16]. Đề tài “Tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho học sinh trong dạy học Lịch sử địa phương ở trường trung học phổ thông huyện Ba Vì- Hà Nội” của tác giả Lê Thị Nga. Tác giả đã chỉ rõ được quy trình tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong dạy học lịch sử địa phương và cũng xác định được 5 hình thức và biện pháp tổ chức các hoạt động học tập trải nghiệm cho HS trong dạy học lịch sử địa phương ở trường THPT Ba Vì, HN [19].