CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC TRẺ Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm Quản lý Quản lý (Management) là một loại hình lao động của con người trong cộng đồng nhằm thực hiện các mục tiêu mà tổ chức hoặc xã hội đặt ra. Trong xã hội loài người, quản lý là một hoạt động bao trùm mọi mặt đời sống xã hội. Quản lý là nhân tố không thể thiếu được trong đời sống và sự phát triển của xã hội. Loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái xã hội khác nhau nên cũng trải qua nhiều hình thức quản lý khác nhau.
Các triết gia, các nhà chính trị từ thời cổ đại đến nay đều rất coi trọng vai trò của quản lý trong sự ổn định và phát triển của xã hội. Nó là một phạm trù tồn tại khách quan và là một tất yếu lịch sử. Quản lý chứa đựng nội dung rộng lớn, đa dạng phức tạp và luôn vận động, biến đổi, phát triển. Vì vậy, khi nhận thức về quản lý, khái niệm quản lý có nhiều cách tiếp cận khác nhau như: Tác giả Nguyễn Ngọc Quang quan niệm: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (khách thể quản lý) nhằm thực hiện những mục tiêu dự kiến” [29, tr.
Theo Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc: Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) – trong một tổ chức – nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức [11]. Theo tác giả Trần Kiểm: Quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người – thành viên của hệ - nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt tới mục đích dự kiến [20]. Tóm lại, tuy có nhiều khái niệm, nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý, mỗi quan điểm nhấn mạnh mặt này hay mặt khác nhưng đều có điểm chung thống nhất xác định quản lý là hoạt động có tổ chức, có mục đích nhằm đạt tới mục tiêu xác định.Theo góc nhìn của tác giả thì: Quản lý là một quá trình tác động có mục đích, 10 có kế hoạch của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức đã đề ra.2 Khái niệm Quản lý giáo dục Cũng như mọi hoạt động quản lý xã hội khác, quản lý giáo dục là một hoạt động có ý thức của con người nhằm đạt được mục đích của mình. Và chính mục đích của giáo dục cũng chính là mục đích của quản lý.
Về thuật ngữ “Quản lý giáo dục” cũng có nhiều khái niệm khác nhau, tùy theo các tiếp cận về cấp độ: vĩ mô hay vi mô. Đối với cấp vĩ mô: Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội [16]. Đối với cấp vi mô: Quản lý giáo dục là quản lý hoạt động giáo dục trong nhà trường bao gồm hệ thống những tác động có hướng đích của hiệu trưởng, đến các hoạt động giáo dục, đến con người (giáo viên, nhân viên, học sinh), đến các nguồn lực (cơ sở vật chất, thông tin, tài chính.), đến các ảnh hưởng ngoài nhà trường một cách hợp quy luật nhằm đạt mục tiêu giáo dục [16]. Những khái niệm trên tuy có diễn đạt khác nhau nhưng tựu trung quản lý giáo dục được hiểu là: Sự tác động có tổ chức, có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục ở từng cơ sở và của toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu đã định.
Như vậy, quản lý giáo dục bao gồm những yếu tố sau: Chủ thể quản lý; Đối tượng quản lý; Khách thể quản lý; Phương pháp quản lý; Công cụ quản lý; Mục tiêu quản lý. Dù quản lý giáo dục có được hiểu theo nghĩa nào thì cũng cần sự có mặt của những yếu tố đó. Quản lý giáo dục là một lĩnh vực khoa học đòi hỏi chuyên môn cao, đây là công cụ quan trọng trong việc triển khai các hoạt động giáo dục, đảm bảo cho việc nâng cao chất lượng giáo dục.3 Quản lý giáo dục mầm non Quản lý giáo dục mầm non nằm trong hệ thống quản lý giáo dục nhưng khách thể là các cơ sở giáo dục mầm non, nơi thực hiện nhiệm vụ chăm sóc giáo dục trẻ từ 3 tháng đến 72 tháng tuổi. Cũng như các bậc học khác trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục mầm non cũng có mạng lưới quản lý chuyên môn của bậc học từ trên xuống: từ cấp Bộ xuống Sở, Phòng và tới trường, lớp mầm non.
Quản lý giáo dục mầm non là quá trình điều hành phối hợp để tạo ra những điều kiện tối ưu cho các cơ sở giáo dục mầm non thực hiện mục tiêu giáo dục đào tạo. Trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục mầm non là khâu đầu tiên đặt nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách. Mục tiêu của giáo dục mầm non là định hướng và điều khiển toàn bộ công tác quản lý giáo dục mầm non. Do vậy, công tác quản lý giáo dục mầm non có những đặc điểm sau: Quản lý giáo dục mầm non là một bộ phận của quản lý giáo dục, quản lý xã hội cũng như công tác quản lý giáo dục nói chung, việc quản lý con người là yếu tố trung tâm của quản lý giáo dục mầm non.
Trình độ và năng lực của người cán bộ quản lý giáo dục mầm non thể hiện trước hết ở khả năng làm việc với những con người, biết đánh giá, bồi dưỡng và phát huy những khả năng của mỗi người, động viên mọi người làm việc tự giác, tích cực với tinh thần trách nhiệm cao. Trong trường mầm non, đội ngũ giáo viên là đối tượng quản lý quan trọng nhất, đồng thời là chủ thể quản lý giáo dục. Do đó, giáo viên phải thực hiện vai trò giáo dục của mình, thực sự làm chủ nhà trường. Như vậy, đội ngũ giáo viên phải giữ vai trò chủ thể tham gia vào quản lý nhà trường [16].
Mục tiêu cơ bản nhất của giáo dục mầm non là xây dựng nền móng ban đầu của nhân cách, giáo dục trẻ em là nhiệm vụ hàng đầu. Nội dung, phương pháp, kế hoạch giáo dục và quản lý giáo dục mầm non phải dựa trên mục tiêu giáo dục, dựa trên đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ em và xu hướng phát triển của xã hội thời đại. Cũng như mục tiêu giáo dục nói chung, mục tiêu giáo dục mầm non là một hệ thống phát triển thống nhất. Do đó, công tác quản lý giáo dục mầm non cần phải thống nhất về nội dung, phương pháp, hình thức quản lý giáo dục giữa gia đình, nhà 12 trường và các tổ chức đoàn thể xã hội.
Giáo dục mầm non không mang tính bắt buộc đối với trẻ em. Trong xã hội phát triển, sự đa dạng hóa các loại hình, trường, lớp nuôi dạy trẻ là khó tránh khỏi. Trường mầm non cần phải làm rõ tính ưu việt của mình trong công tác chăm sóc trẻ em, không ngừng nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ [16].2 Chăm sóc trẻ ở các trường mầm non 1.1 Trường mầm non trong hệ thống giáo dục quốc dân 1.1 Vị trí của trường mầm non Luật giáo dục 2005 khẳng định: Giáo dục mầm non thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ từ 3 tháng đến 6 tuổi (Điều 21); Mục tiêu của giáo dục mầm non là phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1 (Điều 22) [30].2 Nhiệm vụ của trường mầm non Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Văn bản hợp nhất 04/VBHN-BGDĐT năm 2015 hợp nhất Quyết định về Điều lệ trường mầm non. Theo đó, quy định vị trí, nhiệm vụ, tổ chức và quản lý trường mầm non, trường mẫu giáo, nhà trẻ; Chương trình và các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em; Tài sản của trường mầm non, trường mẫu giáo, nhà trẻ, nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập; Giáo viên và nhân viên [7].
Trong đó, Điều 2 Điều lệ trường Mầm non quy định: Trường mầm non có một số nhiệm vụ và quyền hạn chính là: Tổ chức thực hiện chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ từ 3 tháng đến 6 tuổi theo chương trình giáo dục mầm non do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; Huy động trẻ em lứa tuổi mầm non đến trường; Tổ chức giáo dục hòa nhập cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em khuyết tật; Quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên để thực hiện nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em; Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp luật; Xây dựng cơ sở vật chất theo yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa hoặc theo yêu cầu tối thiểu đối với vùng đặc biệt khó khăn; Phối hợp với gia đình trẻ em, tổ chức cá nhân để thực hiện hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em; Tổ chức cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và trẻ 13 em tham gia các hoạt động xã hội trong cộng đồng; Thực hiện kiểm định chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em theo quy định; Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật [7, tr.3 Yêu cầu về nội dung, phương pháp giáo dục mầm non a, Về yêu cầu nội dung, phương pháp giáo dục mầm non: Nội dung giáo dục mầm non phải bảo đảm phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em, hài hòa giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; giúp trẻ phát triển cơ thể cân đối, khỏe mạnh, nhanh nhẹn; biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông, bà, cha mẹ, cô giáo và người trên; yêu quý anh, chị, em, bạn bè; thật thà, mạnh dạn, hồn nhiên, yêu thích cái đẹp; ham hiểu biết, thích đi học. Phương pháp giáo dục mầm non chủ yếu thông qua việc tổ chức hoạt động vui chơi để giúp trẻ em phát triển toàn diện, chú trọng việc nêu gương, động viên, khích lệ [27].