CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ HẠNH KIỂM HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Những nghiên cứu ngoài nước Từ khi xuất hiện trên trái đất, con người không thể tránh khỏi một quy luật tất yếu là họ phải có quan hệ trực tiếp hay gián tiếp với nhau để sinh tồn và phát triển. Quan hệ giữa con người và con người, giữa cá nhân và cộng đồng ngày càng phức tạp và phong phú, đòi hỏi mỗi cá nhân phải lựa chọn cách giao tiếp, ứng xử, điều chỉnh thái độ, hành vi sao cho phù hợp với lợi ích chung của mọi người.
Giáo dục đạo đức cho con người nói chung và cho HS nói riêng, luôn được các quốc gia trên thế giới coi trọng và đưa vào chương trình giáo dục phổ thông nhằm đánh giá đạo đức, hạnh kiểm, hành vi của học sinh trong quá trình tham gia học tập. Oliver (2006) trong công trình do Nguyễn Kim Dung dịch (tại Chương 12), trình bày rất sâu và chi tiết về đánh giá các mặt khác nhau ở người học, cụ thể là HS THCS. Tác phẩm đã phân tích quá trình đánh giá gồm có: Tiền đánh giá, đánh giá quá trình, đánh giá tổng kết. Tác giả còn đi sâu vào 2 kỹ thuật đo lường: Đo lường dựa vào tiêu chuẩn và đo lường dựa vào tiêu chí.
Để đánh giá kết quả người học, tác giả đề cập đến ba lĩnh vực: Kỹ năng; Nhận thức; Tình cảm. Trong ba lĩnh vực vừa nêu, theo tác giả, lĩnh 9 vực tình cảm hay thái độ (attitude) là khó khăn và phức tạp hơn cả do có liên quan đến vấn đề đạo học hay hạnh kiểm của HS. Để đánh giá chính xác tình cảm hay thái độ của HS, tác giả cho rằng không nên cho điểm từ A đến F theo hệ thống điểm phần trăm vì các em có thể thiếu hay có đặc điểm tình cảm đặc biệt nào đó. Để đánh giá được các kết quả tình cảm thì chúng ta phải khuyến khích HS thể hiện cảm xúc, thái độ của mình vào các chủ đề được thảo luận trong lớp.
Tác giả đã phân loại mục tiêu đánh giá tình cảm hay thái độ của HS theo các cấp bậc (tương tự như thang nhận thức của Bloom) như sau: 1. Sự biểu hiện tính cách bằng giá trị hay một số giá trị. Ngoài ra tác giả cũng đưa ra hàng loạt các ví dụ về kiểm tra tình cảm của các em qua các lĩnh vực trên [7]. Trong nghiên cứu này đã hướng dẫn một cách rõ ràng chi tiết về cách đánh giá hành vi của học sinh từ 3 tuổi đến 18 tuổi với cách tiếp cận đa phương pháp, đa kỹ thuật để đánh giá hành vi, đánh giá nhận thức.
Nghiên cứu này đã thiết kế một cách dễ dàng để chẩn đoán và phân loại sự phức tạp của biểu hiện hành vi và cảm xúc của HS. Hơn nữa, nghiên cứu này cũng chỉ ra được cách đo hành vi của HS thông qua cách nhận xét đánh giá phối hợp giữa thầy cô, cha mẹ, và tự đánh giá của HS. Ngoài ra, nghiên cứu đã trình bày rất kỹ về thang đo thái độ hành vi của HS, và cách sử dụng thang đo [28]. Vishalache Blakrishman (2009) có luận án tiến sĩ giáo dục học Teaching moral education in secondary schools - Using real life dilemmas (Giáo dục đạo đức trong trường phổ thông – Ứng dụng vào tình huống thực tế) tại Đại học Victoria- Newzeland.
Trong nghiên cứu này, tác giả đã đề cập đến vấn đề dạy đạo đức cho học sinh phổ thông phải gắn liền với các yếu tố 10 thực tế của xã hội như tôn giáo, truyền thống, kinh tế, gia đình, cách đánh giá…Đặc biệt, tác giả luận án đã phân tích cụ thể những tình huống thật trong cuộc sống về giáo dục đạo đức cho học sinh phổ thông tại Malayxia thông qua các tình huống mà tác giả cho rằng sẽ có nhiều quyết định lựa chọn tùy theo quan niệm của mỗi cá nhân hay nhóm người hoặc tập thể. Việc quyết định lựa chọn cách nào phụ thuộc nhiều vào các quan niệm giá trị đạo đức của cá nhân hay nhóm người đó [31]. Từ những kết quả nghiên cứu kinh nghiệm quản lý hoạt động giáo dục đạo đức, đánh giá hạnh kiểm học sinh nói trên, luận văn có thể rút ra một số nhận xét: Vấn đề giáo dục đạo đức, đánh giá hạnh kiểm phải gắn với hệ thống giá trị của quốc gia, gắn với những đặc điểm văn hóa, đặc điểm phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ở từng thời kỳ. Điều này phải được thể hiện trong mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục đạo đức, hạnh kiểm học sinh.
Trong thực tế, chương trình một số môn học ở Việt Nam, đặc biệt là môn Đạo đức ở tiểu học và môn Giáo dục công dân ở cấp trung học về cơ bản đã thể hiện những yêu cầu trên. Tuy nhiên, trong thực tiễn, do phải dạy đúng khung chương trình quy định của Bộ GDĐT nên các môn học này chưa tập trung vào những vấn đề thiết thực, thiếu cập nhật, bổ sung tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cũng như của mỗi địa phương. Từ đó ít có điều kiện liên hệ thực tiễn và tìm ra những giải pháp thích hợp. Mục tiêu giáo dục đạo đức và đánh giá hạnh kiểm học sinh cần tập trung nhấn mạnh những điểm nào là cần thiết nhất, nhưng phải gắn với mục tiêu giáo dục cấp học, với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Đảng và Nhà nước đã đưa ra.
Ngoài mục tiêu chung cho giáo dục phổ thông, mỗi cấp học cần cụ thể hóa mục tiêu giáo dục đạo đức và đánh giá hạnh kiểm cho học sinh phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi, với vùng miền. 11 Giáo dục đạo đức và đánh giá hạnh kiểm học sinh được thực hiện qua nhiều con đường, cách thức, phương pháp cụ thể. Nhà trường Việt Nam đã có nhiều kinh nghiệm trong việc vận dụng các phương pháp giáo dục đạo đức khác nhau, tuy nhiên còn hạn chế và nghèo nàn về hình thức giáo dục. Kinh nghiệm của ba nước nói trên cho thấy, cần phải lựa chọn những phương pháp.
Đó phải là những phương pháp có trọng tâm trọng điểm, gắn với đặc điểm lứa tuổi, với điều kiện của từng trường, của mỗi địa phương. Chỉ có làm như vậy mới phát huy được tính sáng tạo của giáo viên trong quá trình giáo dục đạo đức học sinh. Sử dụng các phương tiện giáo dục đạo đức và đánh giá hạnh kiểm học sinh cũng là một vấn đề được các nước quan tâm. Truyền thống nhà trường, truyền thống cách mạng của địa phương, các tấm gương sáng trong học sinh và trong cộng đồng,…đều là những phương tiện giáo dục đạo đức có hiệu quả.
Điều quan trọng là vận dụng như thế, vào những bài học nào, những nội dung nào thì sẽ phát huy được hiệu quả của các phương tiện đó. Những nghiên cứu trong nước 1. Nghiên cứu về hoạt động đánh giá đạo đức, hạnh kiểm học sinh Nguyễn Tùng Lâm (2009) với luận án Tiến sĩ giáo dục, Phối hợp các phương pháp giáo dục nhằm khắc phục tình trạng yếu kém về đạo đức của HS THPT Hà Nội hiện nay đã nghiên cứu cơ sở lý luận của việc phối hợp các phương pháp giáo dục nhằm giải quyết tình trạng HS yếu kém đạo đức ở các trường THPT, trong đó đặc biệt quan tâm đến loại HS yếu kém đạo đức không thể học ở trường THPT bình thường nhưng chưa đến mức phải đưa vào tập trung ở các loại hình trường đặc biệt. Ngoài ra, tác giả của luận án cũng đã đề xuất cách giải quyết HS yếu kém đạo đức thông qua cách phối hợp các phương pháp giáo dục đạo đức sao cho phù hợp với HS, với nhà trường, và xã hội hiện nay [18].
12 Đỗ Ngọc Thống (2013) có tham luận Định hướng đổi mới chương trình giáo dục phổ thông sau 2015 và môn đạo đức – giáo dục công dân trong Hội thảo quốc gia về giáo dục đạo đức – công dân trong giáo dục phổ thông Việt Nam. Tác giả đã đưa ra nhận định, đánh giá những mặt được và hạn chế của môn Giáo dục công dân hiện nay trong các trường phổ thông. Bài viết đã nêu lên những hạn chế trong việc kiểm tra đánh giá môn đạo đức – GDCD hiện nay là cứng nhắc, thiếu liên hệ thực tiễn, nội dung khô khan, vừa thiếu vừa không phù hợp với tình hình xã hội hiện nay, chưa chú trọng giáo dục hành vi đạo đức, kỹ năng sống. Bên cạnh đó, một số giáo viên thiếu kiến thức sâu rộng, chưa cập nhật thông tin mang tính thời sự vào bài giảng, phương tiện như phim ảnh, tranh, sơ đồ,…chưa được sử dụng nhiều.
Ngoài ra, một hạn chế lớn nữa là hình thức kiểm tra đánh giá đạo đức công dân còn chậm đổi mới, phổ biến vẫn là kiểm tra kiến thức, chưa chú trọng đánh giá năng lực. Mặt khác, bài viết cũng nêu lên thực trạng là khi thực hiện Thông tư 58, do số lượng giáo viên dạy đạo đức – GDCD trong mỗi trường chỉ có 1-2 người nên không kiêm nỗi việc đánh giá hạnh kiểm cho HS toàn trường. Tác giả cũng đã đưa ra hàng loạt các giải pháp như xây dựng chương trình môn đạo đức- giáo dục công dân, đổi mới sách giáo khoa, đổi mới dạy và học, bồi dưỡng giáo viên. Đặc biệt là các giải pháp về kiểm tra đánh giá môn đạo đức – giáo dục công dân [24].
Hà Nhật Thăng (2013) có tham luận “Những việc cần làm để phát huy vai trò của môn giáo dục công dân đối với sự hình thành, phát triển nhân cách HS phổ thông” được trình bày tại Hội thảo quốc gia về giáo dục đạo đức – công dân trong giáo dục phổ thông Việt Nam. Nghiên cứu này đã đề cao ý nghĩa và vai trò của môn giáo dục công dân, mối quan hệ của dạy học GDCD với quá trình giáo dục phẩm chất đạo đức, giá trị văn hóa cho HS phổ thông. Môn GDCD vừa là một môn học vừa là một bộ phận của quá trình giáo dục 13 đạo đức, giáo dục pháp luật, giáo dục văn hóa con người. Đánh giá kết quả học tập môn GDCD là đánh giá quá trình hình thành đạo đức, hạnh kiểm, nhân cách của HS phổ thông.
Ngoài ra, nghiên cứu này cũng đề cập đến giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên giảng dạy môn giáo dục công dân, giáo viên chủ nhiệm từ cơ sở đào tạo khối ngành sư phạm. Nghiên cứu này khẳng định, nâng cao hiệu quả môn GDCD cũng chính là nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện nhân cách HS phổ thông [22].