Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác xã hội hóa giáo dục trung học cơ sở. Chương 2: Thực trạng quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường trung học cơ sở huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang. Chương 3: Biện pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục ở các trường trung học cơ sở huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ngoài nước Bắt đầu khoảng 30 năm cuối của thế kỷ XX, đặt biệt những năm đầu thế kỷ XXI, đa số các nước phát triển như Anh, Đức, Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Ôxtrâylia, Malaysia, Singapore, Hàn Quốc. đều tiến hành nhận thức lại vai trò, sứ mệnh của giáo dục, coi giáo dục là nền tảng của mọi sự phát triển xã hội. Khuynh hướng cải cách giáo dục là tập trung thu hút và tăng cường sự tham gia của các lực lượng xã hội, gia đình, các tổ chức trong và ngoài nước cùng với nhà nước tham gia vào GD nói chung và giáo dục THCS nói riêng.
Một số tài liệu, công trình tiêu biểu đã đề cập đến vai trò quan trọng của các lực lượng xã hội trong việc tham gia vào sự nghiệp phát triển nhà trường, cũng như quản lý sự tham gia một cách có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường và kết quả học tập của học sinh. Tài liệu hướng dẫn sự tham gia hiệu quả của CMHS, gia đình và cộng đồng ở các trường Bắc Carolina đã khẳng định tầm quan trọng của gia đình và cộng đồng trong việc tham gia, giúp nhà trường nâng cao thành tích học tập của HS cũng như trang bị những kiến thức tốt cho sinh viên tốt nghiệp ñể tìm những việc làm hiệu quả và trở thành công dân cạnh tranh toàn cầu. Bên cạnh đó tài liệu còn đưa ra tám yếu tố cần thiết để tăng cường sự tham gia của gia đình và cộng đồng [36]. và Moles trong cuốn sách “Cha mẹ và cộng đồng” đã nghiên cứu và chỉ ra những ảnh hưởng khi CMHS có những hình thức tham gia vào quá trình học tập của HS.
Các thành tích, kết quả đạt được và hành vi, thái độ của HS có liên quan đến việc như: cha mẹ tham gia với tư cách là trợ 8 lý lớp học, CMHS làm tình nguyện viên, hỗ trợ làm bài tập ở nhà và tạo môi trường GD ở nhà [38]. J và cộng sự trong cuốn “Nhà trường dựa vào gia đình và cho kết quả” đã điều tra các hiệu ứng thành tích của HS khi có sự hỗ trợ của CMHS vào hoạt động học tập của HS. CMHS từ lớp 1 đến lớp 6 trong 41 lớp học ở Chicago đồng ý hợp tác với các GV trong việc hỗ trợ hoạt động học tập của con em họ. Kết quả cho thấy HS nào cha mẹ tham gia nhiều vào hoạt ñộng học tập của con thì thành tích học tập của con họ sẽ tăng hơn so với các bậc cha mẹ không tham gia.
Tác giả Comer, J, trong nghiên cứu "Sự tham gia của phụ huynh trong các trường học đã mô tả các mối quan hệ đang thay đổi giữa các trường học và cộng đồng, đồng thời thảo luận về vai trò quan trọng của phụ huynh khi tham gia vào GD nhà trường. Tác giả đã trình bày chi tiết về các chương trình phụ huynh tham gia ở các trường học tại Connecticut, kết quả học tập của HS trong các trường học đã có sự thay đổi rất tích cực đó là trước kia kết quả rất thấp nay thì hầu như hết HS các trường đã đạt được kết quả cao khi có sự tham gia của CMHS [35]. Tác giả Laura Brannelly và Joan Sullivan-Owomoyela trong cuốn sách “Thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng đóng góp cho giáo dục trong các điều kiện xung đột” đề cập đến sự tham gia của cộng đồng và phát triển mô hình cộng đồng tham gia vào GD ở các nước Jordan, Afghanistan, Iraq, Liberia, Uganda và vùng lãnh thổ Palestine. Các tác giả đã nghiên cứu sự tham gia của cộng đồng vào GD trong hoàn cảnh chính trị của mỗi quốc gia, mỗi vùng lãnh thổ khác nhau.
Tác giả khẳng định, GD đóng góp rất nhiều vào nỗ lực tái thiết và giải quyết xung đột đất nước, nhưng trong bối cảnh đất nước như vậy cộng đồng sẽ phải đối mặt với rất nhiều thách thức và khó khăn khi tham gia vào GD. Các tác giả đã đưa ra tầm quan trọng và vai trò của cộng đồng trong việc tham gia vào bối cảnh tái thiết đất nước sau xung đột và xây dựng lại GD. Các nghiên cứu trong nước Tại Việt Nam, sự tham gia của các LLXH trong XHHGD nói riêng và sự nghiệp GD đã được Đảng và Nhà nước quy định. Trong kho tàng các tư liệu nghiên cứu đề cập rất nhiều sự cần thiết phối hợp giữa các lực lượng tham gia XHHGD.
Cùng với việc biên soạn, phát hành các tài liệu, Đảng và Nhà nước đã ban hành các Nghị định, chiến lược về XHHGD; Bộ GD&ĐT đã ban hành nhiều văn bản về biện pháp tổ chức chỉ đạo các hoạt động XHHGD làm cơ sở pháp lý của quá trình tổ chức, vận động các tổ chức kinh tế - xã hội tham gia vào GD; điều lệ tổ chức và hoạt động của HĐGD các cấp chính quyền địa phương; Hướng dẫn thực hiện điều lệ và hoạt động của HĐGD; Tổ chức đại hội giáo dục các cấp; Thành lập Hội CMHS v.Và mới đây nhất Chính phủ đã đưa ra các chính sách, văn bản liên quan đến công tác XHHGD. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 coi việc phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu để đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Nhà nước tăng đầu tư, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, huy động toàn xã hội chăm lo phát triển giáo dục [15]. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII Đảng cộng sản Việt Nam vào tháng 6/1996 đã khẳng định “xã hội hóa” là một trong những quan điểm để hoạch định các chính sách xã hội; Nghị quyết số 90/CP ngày 21/8/1997 về “Phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa”; Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục; Nghị định số 73/1999/NĐ-CP ngày 19/8/1999 của Chính phủ về “Chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao”; Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng cộng sản Việt Nam vào tháng 4/2001 chỉ rõ GD&ĐT phải thực hiện “Chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”… Đặc biệt Luật Giáo dục Việt Nam được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 14/6/2005 một lần nữa 10 khẳng định: “Phát triển GD, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của nhà nước và của toàn dân.
Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp GD; thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường và các hình thức giáo dục, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp GD…”. Gần đây, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng cộng sản Việt Nam vào tháng 5/2016 cũng chỉ rõ đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo là phải thực hiện tốt nhiệm vụ: “Huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội, nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển GD&ĐT”. [13] Cũng trong thời kỳ đổi mới này, nhiều nhà khoa học, nhà QLGD đã bàn luận nhiều về XHHGD. Đặc biệt, tác giả Phạm Minh Hạc đã viết nhiều tài liệu về XHHGD, nhiều bài phát biểu chỉ đạo phong trào XHHGD, trong cuốn “Xã hội hóa công tác giáo dục” xuất bản năm 1997 do ông làm tổng chủ biên, đã khẳng định: “XHH công tác GD là một tư tưởng chiến lược, một bộ phận của đường lối GD, một con đường phát triển GD nước ta” [12].
Trong cuốn “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI”, tác giả Phạm Minh Hạc một lần nữa khẳng định: “Sự nghiệp GD không phải chỉ là của Nhà nước, mà là của toàn xã hội: mọi người cùng làm GD, Nhà nước và xã hội, trung ương và địa phương cùng làm giáo dục, tạo nên một cao trào học tập trong toàn dân. Trong cuốn “Xã hội hóa công tác giáo dục”, tác giả Phạm Tất Dong đã làm rõ nội hàm khái niệm XHHGD, coi công tác XHHGD là một khái niệm đã vận động trong thực tiễn đấu tranh cách mạng ở Việt Nam qua mỗi giai đoạn. Tư tưởng XHHGD được thừa nhận là một nhân tố mới trong sự phát triển GD hiện nay. Hơn nữa, với tư cách là nhân tố mới của sự phát triển GD, tư tưởng “XHH công tác GD lại tạo ra những điều kiện để xuất hiện những nhân tố mới khác trong quá trình vận động đi lên của các phong trào 11 GD.
Những điều kiện đó chính là những kinh nghiệm rút ra từ thực tế sinh động của GD, trên cơ sở tư duy GD trở nên xuất xắc, nhờ đó nhiều bài toán của GD&ĐT đã được giải một cách hợp lý”. Nhân kỷ niệm 40 năm thành lập Viện Khoa học giáo dục - năm 2001, từ góc độ GD học, cuốn sách “Xã hội hóa giáo dục” do Võ Tấn Quang chủ biên cùng tập thể tác giả Trần Kiểm, Nguyễn Thanh Bình, Lê Đức Phúc, Thái Duy Tuyên, Nguyễn Văn Đản, Đào Huy Ngận đã khẳng định: XHH công tác GD- một phương thức thực sự giáo dục nhằm XHH cá nhân. Lần đầu tiên cuốn sách với ý nghĩa một chuyên khảo đã đề cập đến đặc trưng của XHHGD ở các cấp học, bậc học và ở địa bàn nông thôn, vấn đề QLNN trong việc thực hiện XHHGD để có sự định hướng đúng đắn hoạt động XHHGD ở các nhà trường và địa phương. Như vây, vấn đề XHHGD đã được nghiên cứu cả về lý luận lẫn thực tiễn khá sâu rộng và lâu dài trong lịch sử nước ta và các nước trên thế giới.
Bên cạnh các công trình nghiên cứu khoa học về công tác XHHGD trong những năm gần đây được nhiều CBQL giáo dục nước ta quan tâm, có những luận văn Thạc sĩ đã đề cập đến và nêu nhiều biện pháp tăng cường công tác xã hội hóa giáo dục.