Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Trên thế giới, các nước có nền giáo dục phát triển đều chú trọng đến việc ứng dụng CNTT và truyền thông (CNTT&TT) như: Nước Mỹ, Australia, Canađa, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Malaysia. Để ứng dụng CNTT được như ngày nay các nước này đã trải qua rất nhiều các chương trình quốc gia về tin học hoá cũng như ứng dụng CNTT&TT vào các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là ứng dụng vào khoa học công nghệ và giáo dục.
Họ coi đây là vấn đề then chốt của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, là chìa khoá để xây dựng và phát triển công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tăng trưởng nền kinh tế để xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức, hội nhập với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới. Vì vậy, họ đã thu được những thành tựu rất đáng kể trên các lĩnh vực như: Điện tử, sinh học, y tế, giáo dục. Cộng hòa Pháp: Từ năm học 2005 – 2006, chính phủ đưa ra chuẩn 7 kỹ năng/ năng lực cơ bản học sinh TH và trung học cơ sở cần phải đạt được sau khi tốt nghiệp. Trong đó có kỹ năng quen với những kỹ năng thông thường về công nghệ thông tin [27, tr 153-155].
Nhật Bản: Xây dựng chương trình Quốc gia có tên: “Kế hoạch một xã hội thông tin - mục tiêu quốc gia đến năm 2000” đã được công bố từ những năm 1972. Luan van 7 Philippin: Kế hoạch CNTT&TT Quốc gia (NTTP) của Philippin công bố năm 1989 xác định một chiến lược chung nhằm đưa CNTT&TT phục vụ việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong những năm 90. Đài Loan: Năm 1980 chính sách tin học của Đài Loan đã được công bố và “Kế hoạch 10 năm phát triển CNTT ở Đài Loan” đã đề cập đến cấu trúc tổ chức của CNTT trong nước và những nội dung mà chính phủ cần làm để phát triển CNTT, tiếp tục khả năng cạnh tranh thành công trên thị trường thế giới. Singapore: Năm 1981 thông qua một đạo luật về Tin học hóa Quốc gia quy định ba nhiệm vụ: Một là, thực hiện việc tin học hóa mọi công việc hành chính và hoạt động của Chính phủ.
Hai là, phối hợp GD&ĐT tin học. Ba là, phát triển và thúc đẩy công nghiệp dịch vụ tin học ở Singapore. Một Ủy ban máy tính Quốc gia được thành lập để chỉ đạo công tác đó. Malaysia: Năm 1999, Malaysia xây dựng tầm nhìn phát triển trường học tương lai.
Ý tưởng này còn gọi là trường học thông minh, chứa đựng những sáng kiến về CNTT&TT. Mục đích của những sáng kiến này là đưa 10.000 trường trên toàn quốc trở thành trường “thông minh” vào năm 2010. Trong năm 2006, Bộ Giáo dục Malaysia đã tiến hành nghiên cứu đánh giá tác động về “Giải pháp tích hợp trường thông minh”. Nghiên cứu đưa ra kết luận rằng việc sử dụng CNTT&TT trong dạy học không còn là một xu hướng mà là sự cấp thiết [27, tr 153-155].
Hàn Quốc: Chiến lược giáo dục “thông minh” ở Hàn Quốc nhằm nâng cao tính cạnh tranh, đưa giáo dục Hàn Quốc vào tốp 10 nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới vào năm 2015 và tốp ba trên thế giới vào năm 2025. Để thực hiện mục tiêu này, nền giáo dục thông minh sẽ tập trung vào “hướng dẫn tự học” và “học tập theo yêu cầu”. Bộ Giáo dục Hàn Quốc sẽ bảo đảm đầu tư khoảng hai tỷ USD để xây dựng hạ tầng cần thiết và mua Luan van 8 máy tính cũng như các thiết bị tiên tiến khác trong thời gian bốn năm, từ nay đến năm 2015. Theo kế hoạch, sách giáo khoa in và các tài liệu dạy học khác sẽ được số hóa đối với bậc TH vào năm 2014 và bậc trung học cơ sở và trung học phổ thông vào năm 2015.
Giáo dục Hàn Quốc hướng đến chấn hưng trường học; nâng cao vị thế nghề giáo; tạo điều kiện cho mọi người được hưởng giáo dục cơ bản; xây dựng một xã hội học tập suốt đời; xây dựng một môi trường giáo dục tạo điều kiện học tập sáng tạo và hướng tới một xã hội nhân văn; xây dựng các trường đại học có tính cạnh tranh toàn thế giới; giáo dục dạy nghề đáp ứng nhu cầu công nghiệp; cung cấp không gian học tập tự điều khiển, tin học trong môi trường toàn cầu [2, tr 29]. Australia: vào tháng 3 năm 2000, Hội đồng Bộ trưởng đã ủng hộ hướng đi được trình bày trong tài liệu “Cơ cấu chiến lược cho nền kinh tế thông tin”, tài liệu này bao gồm hai mục tiêu giáo dục trường học bao quát cho nền kinh tế thông tin: Một là: Tất cả mọi học sinh sẽ rời trường học như những người sử dụng tin cậy, sáng tạo và hiệu quả những công nghệ mới, bao gồm CNTT&TT, và những học sinh này cũng ý thức được tác động của những ngành công nghệ này lên xã hội. Hai là: Tất cả các trường đều hướng tới việc kết hợp CNTT&TT vào trong hệ thống của họ, để cải thiện khả năng học tập của học sinh, để đem lại nhiều cơ hội học tập hơn cho người học và làm tăng hiệu quả của việc thực tập kinh doanh của dân tộc họ. Qua các nghiên cứu trên cho thấy, các quốc gia trên thế giới đã đánh giá được CNTT sẽ tác động vào mọi mặt của xã hội trong đó có tác động đến giáo dục và đào tạo.
Những nghiên cứu trong nước Trước sự phát triển mạnh mẽ của CNTT trên thế giới, năm 1996 tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 2 khoá VIII đã thông qua Nghị quyết “Về định hướng chiến lươc giáo dục-đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hoá hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000”; Nghị quyết “Về định hướng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hoá và nhiệm vụ đến năm 2000”; Chỉ thị số 58 –CT ngày 17 tháng 10 năm 2000 về việc đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH). Kết quả đưa sự nghiệp GD&ĐT nước ta đạt nhiều thành tựu quan trọng, cụ thể là: Đã xác lập được hệ thống giáo dục quốc dân tương đối hoàn chỉnh từ mầm non đến đại học; CSVC, trang thiết bị được đầu tư và từng bước hiện đại; Quy mô học sinh, sinh viên tăng nhanh, đặc biệt là giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp; Chất lượng GD&ĐT chuyển biến tích cực, đáp ứng nhu cầu xã hội; Đội ngũ nhà giáo và CBQL đảm bảo số lượng, chất lượng, đồng bộ về cơ cấu; Chi ngân sách cho GD&ĐT đạt mức 20% tổng chi ngân sách nhà nước. Trên cơ sở thành tựu đạt được, ngày 04 tháng 11 năm 2013 Ban Chấp hành Trung ương tiếp tục ban hành Nghị Quyết số 29-NQ/ TW về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế; tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học; đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo và nhu cầu học tập suốt đời của mọi người…; đẩy mạnh ứng dụng CNTT&TT trong dạy và học [1]. Luan van 10 Ngày 25/01/2017 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 117/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “Tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng GD&ĐT giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025”.
Mục tiêu chung của Đề án là nhằm đẩy mạnh triển khai Chính phủ điện tử, cung cấp dịch vụ công trực tuyến trong hoạt động quản lý điều hành của cơ quan quản lý nhà nước về GD&ĐT ở trung ương và các địa phương; đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá và nghiên cứu khoa học và công tác quản lý tại các cơ sở GD&ĐT trong hệ thống giáo dục quốc dân góp phần hiện đại hóa và nâng cao chất lượng GD&ĐT. Đẩy mạnh ứng dụng CNTT đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá và nghiên cứu khoa học. Đẩy mạnh ứng dụng CNTT đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá và nghiên cứu khoa học. Tiếp tục xây dựng và thường xuyên (TX) cập nhật kho học liệu số dùng chung phục vụ giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên trong toàn ngành, gồm: Bài giảng điện tử, học liệu số đa phương tiện, sách giáo khoa điện tử, phần mềm mô phỏng và các học liệu khác.
Tiếp tục xây dựng và thường xuyên cập nhật hệ thống ngân hàng câu hỏi trực tuyến của các môn học và phần mềm kiểm tra, đánh giá tập trung qua mạng phục vụ học sinh, giáo viên giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên. Ứng dụng dạy học thông minh ở các cơ sở GD&ĐT, địa phương có đủ điều kiện trên nguyên tắc thiết thực, hiệu quả. Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện cổng thư viện số (giáo trình, bài giảng, học liệu số) liên thông, chia sẻ học liệu với các cơ sở đào tạo đại học nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu, đào tạo trong giáo dục đại học. Triển khai hệ thống học tập trực tuyến tại các cơ sở đào tạo đại học; lựa chọn, sử dụng các bài giảng trực tuyến của nước Luan van 11 ngoài phù hợp với điều kiện trong nước.
Hình thành một số cơ sở đào tạo đại học trực tuyến trên cơ sở các trường hiện có bằng nguồn vốn đầu tư của nước ngoài, doanh nghiệp [10]. Ngày 23/5/2017 Bộ giáo dục và Đào tạo ban hành kế hoạch số 345/KH- BGDĐT ngày 23/5/2017 thực hiện Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng GD&ĐT giai đoạn 2016 - 2020, định hướng đến năm 2025”. Kế hoạch đã nêu rõ nhiệm vụ của các ngành, các cấp nhằm thực hiện thành công Quyết định 117/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ [4]. Năm 2018, Bộ giáo dục ban hành Công văn 4095/BGDĐT-CNTT ngày 10 tháng 09 năm 2018 Về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT năm học 2018 – 2019.