Chương 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm thể chất Theo A.
Matveep “Thể chất là chất lượng cơ thể con người. Đó là những đặc trưng về hình thái, chức năng của cơ thể được thay đổi và phát triển theo từng giai đoạn và các thời kỳ kế tiếp nhau theo quy luậtsinh học. Thể chất được hình thành và phát triển do bẩm sinh di truyền và những điều kiện sống tác động” [10]. Khái niệm giáo dục thể chất GDTC là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạyhọc động tác, giáo dục các tố chất thể lực, lĩnh hội các tri thức chuyên môn vềTDTT và hình thành nhu cầu tập luyện tự giác ở con người [10].
GDTC cũng như các hình thức giáo dục khác, bản chất là một quá trình sư phạm với đầy đủ những đặc trưng cơ bản của nó. Sự khác biệt chủ yếu của GDTC với các hình thức giáodục khác ở chỗ là quá trình hướng đến việc hình thành kỹ năng, kỹ xảo vận động, phát triển các tố chất thể lực, hoàn thiện về hình thái và chức năng của cơ thể, qua đó trang bị kiến thức và mối quan hệ giữa chúng. Như vậy có thể thấy, GDTC như một hình thức độc lập tương đối của quá trình giáo dục toàn diện, có quan hệ khách quan với các hình thức giáo dục khác như: Giáo dục đạo đức, thẩm mỹ, trí tuệ và lao động…[10]. Khái niệm phát triển thể chất Đó là một quátrình hình thành và biến đổi tuần tự theo quy luật trong cuộc đời từng người về hình thái, chức năng và cả những tố chất vận động và năng lực thể chất.
Chúng được hình thành trên và trong cái nền thân thể ấy [10]. Khái niệm hoàn thiện thể chất 14 skkn Hoàn thiện thể chất là mức độ tối ưu tương ứng với một giai đoạn lịch sử nhất định, một trình độ thể lực toàn diện, đáp ứng đầy đủ với nhu cầu lao động và các hoạt động cần thiết khác, phát huy cao độ những năng khiếu bẩm sinh về thể chất của từng người, phù hợp với qui luật phát triển toàn diện nhân cách và giữ gìn nâng cao sức khỏe để hoạt động tích cực bền lâu, cóhiệu quả [10]. Tiêu chí đánh giá chất lượng GDTC Có 2 tiêu chí để đánh giá chất lượng GDTC ở Trường THPT. Tiêu chí thứ nhất là kết quả học tập của học sinh được đánh giá theo Thông tư 22/2021/TT- BGDĐT ngày 20 tháng 7 năm 2021 về việc Quy định đánh giá học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông.
Trong đó, giáo viên đánh giá học sinh thông qua điểm kiểm tra lý thuyết và thực hành nằm trong chương trình giảng dạy nội dung chính khoá của môn giáo dục thể chất, có thang điểm, quy định và quy cách đánh giá kết quả học tập. Cuối cùng, các học sinh sẽ được xếp loại là Đạt hoặc Chưa đạt về kết quả học tập môn GDTC. Tiêu chí thứ hai là đánh giá chất lượng GDTC chất thông qua đánh giá thực trạng năng lực thể chất dựa trêntiêu chuẩn rèn luyện thân thể để đánh giá, xếp loại thể lực học sinh, sinh viên theo Quyết định số 53/2008/BGDĐT ngày 18/9/2008 của Bộ GD & ĐT quy định và ban hành. Đặc điểm tâm, sinh lý lứa tuổi học sinh THPT Tuổi thanh niên là thời kỳ đạt được sự trưởng thành về mặt thể lực,nhưng sự phát triển cơ thể còn kém so với người lớn.Tuổi thanh niên bắt đầu thời kỳ phát triển tương đối êm ả về mặt sinh lý.
Nhịp độ tăng trưởng về chiều cao và trọng lượng đã chậm lại. Các em gái đạt đượcsự tăng trưởng trung bình vào khoảng 16 - 17 tuổi, các em trai vào khoảng 17- 18 tuổi. Trọng lượng của các em trai đã đuổi kịp các em gái và tiếp tục vượtlên. Sức mạnh cơ bắp tăng rất nhanh.
Lực cơ của các em trai tuổi 16 vượt lên gấp 2 lần so với lực cơ của các em tuổi 12. Nhìn chung thì đây là lứa tuổi các em có cơ thể phát triển cân đối, khoẻ và đẹp. Đa số các em có thể đạt được những khả năng phát triển về cơ thể như người lớn. 15 skkn Hệ xương: Vẫn tiếp tục được cốt hoá mãi tới năm 24 - 25 mới hoàn thiện.
Cơ tăng khối lượng và đạt 43 - 44% trọng lượng toàn thân. Sự cốt hoá bộ xương là chấm dứt sự phát triển chiều dài. Hệ thần kinh: Được phát triển một cách hoàn thiện. Khả năng tư duy,phân tích tổng hợp và trừu tượng hoá được phát triển thuận lợi tạo điều kiện tốt cho việc hình thành phản xạ có điều kiện.
Ngoài ra, do hoạt động mạnhcủa tuyến giáp, tuyến sinh dục, tuyến yên, làm cho quá trình hưng phấn của hệ thần kinh chiếm ưu thế. Giữa hưng phấn và ức chế nhiều khi không cân bằng đã làm ảnh hưởng đến hoạt động thể lực. Hệ cơ: Riêng bắp cơ lớn như cơ đùi, cơ cánh tay phát triển nhanh,các cơ co phát triển sớm hơn cơ duỗi vì vậy sử dụng các bài tập phát triển sứcmạnh là hợp lý. Các bài tập phải đảm bảo nguyên tắc vừa sức và đảm bảo cho tất cả các loại cơ.
Hệ tuần hoàn: Đã phát triển hoàn thiện, sau hoạt động, mạch và huyết áp hồi phục tương đốinhanh chóng, cho nên lứa tuổi học sinh THPT (15 - 17 tuổi) phù hợp vớinhững bài tập chạy dai sức và những bài tập có cường độ và khối lượng tươngđối lớn Tâm lý lứa tuổi: Vị trí củathanh niên có tính chất không xác định, ở mặt này họ được coi là người lớn,mặt khác lại không, tính chất đó và những yêu cầu đề ra cho thanh niên được phản ánh một cách độc đáo về tâm lý thanh niên. Vị trí “không xác định” củathanh niên là một tất yếu khách quan. Người lớn phải tìm cách tạo điều kiệncho việc xây dựng một phương thức sống mới phù hợp với mức độ phát triển chung của họ bằng cách khuyến khích hành động có ý thức trách nhiệm riêngvà khuyến khích sự giáo dục lẫn nhau trong tập thể thanh niên mới lớn [3],[8], [32], [68]. 16 skkn Thái độ của các em với học tập có tính lựa chọn hơn, ở các em đã hìnhthành hứng thú học tập gắn liền với những khuynh hướng nghề nghiệp.
Cuối bậc THPT các em đã biết xác định cho mình một hứng thú ổn định đối với một môn học nào đó với một lĩnh vực nhất định. Hứng thú này thường liên quan với việc chọn một nghề nhất định của các em. Nhưng đôi khi các em lạisao nhãng môn học cho là không quan trọng. Vì vậy giáo viên cần làm cho các em hiểu được ý nghĩa và chức năng của giáo dục hướng nghiệp [8].
Ở thanh niên mới lớn, tính chủ định được phát triển mạnh. Tri giác cómục đích đã đạt tới mức rất cao. Quan sát đã trở nên có mục đích, có hệ thốngvà toàn diện hơn. Quá trình quan sát đã chịu sự điều khiển của hệ thống tín hiệu thứ hai nhiều hơn và không tách khỏi tư duy ngôn ngữ.
Các em có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng cũng phát triển. Tư duy chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán hơn đồng thời tính phê phán của tư duy cũng phát triển [3] Các em không chỉ nhận thức được cái tôi của mìnhtrong hiện tại mà còn nhận thức được vị trí của mình trong xã hội, trong tương lai, biết khắc phục những khó khăn để đạt được mục đích mình đã định. Đây chính là đặc điểm thuận lợi để rèn luyện các tố chất thể lực. Không những họ biết đánh giá hành vi của mình mà còn biết đánh giá những phẩm chất mạnh yếu của người khác.
Ngoài ra, còn có sự hình thành thế giới quan, hệ thống những quanđiểm về tự nhiên và xã hội, về các quy tắc ứng xử [3], [8]. Các yếu tố tác động tới sự phát triển thể chất của học sinh THPT Sự phát triển thể chất của học sinh còn được gọi là sự trưởng thành và phát dục phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: đặc điểm di truyền cá thể và chủng tộc, chế độ cung cấp dinh dưỡng, hoàn cảnh môi trường và điều kiệnsống. Tất cả các yếu tố này đều có thể tác động lên quá trình trao đổi chất trong cơ thể, lên các tế bào và cơ quan thực hiện phản ứng,lên hệ thần kinh và các tuyến nội tiết, qua đó chúng gây ảnh hưởng và chi phối quá trình trưởng thành, phát dục. Yếu tố di truyền 17 skkn Di truyền là yếu tố tính chất bẩm sinh, sinh ra đã có, thế hệ sau tiếp thu, kế thừa và phát huy những đặc tính của các thế hệ trước đó.
Di truyền đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển thể chất của từng cá thể, điều đó có nghĩa là nếu ông bà, cha mẹ có những đặc tính tốt về thể chất và tinh thần thì sẽ truyền thụ lại cho con cháu những phẩm chất tốt đó giúp ích cho sự phát triển sau này. Di truyền còn là yếu tố thể hiện khả năng tiềm ẩn của cá thể. Khi nắm bắt được những khả năng ấy chúng ta có thể điều khiển được sự phát triển thểchất của cá thể đi đúng hướng, phù hợp với cá nhân và xã hội thông qua quá trình GDTC, cũng như các điều kiện sống, sinh hoạt và học tập khác nhau. Yếu tố môi trường tự nhiên Nhiệt độ không khí, khí hậu thời tiết, nước, ánh sáng, địa hình tự nhiên.
được coi như là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển thể chất của con người. Bên cạnh đó các yếu tố này còn được sử dụng để tôi luyện, củng cố sức khoẻ và nâng cao năng lực hoạt động của con người. Con người là một thực thể tự nhiên, do tựnhiên tạo ra, vì vậy giữa cơ thể sống và môi trường tự nhiên có sự thống nhất chặt chẽ. Nếu môi trường sống trong sạch sẽ tạo nên những điều kiện tốt, những sự biến đổi có lợi cho việc nâng cao sức khoẻ của con người, đẩy lùi được bệnh tật kéo dài được tuổi thọ, làm cho người ta yêu đời,yêu cuộc sống hơn, có trách nhiệm hơn với bản thân và xã hội.
Nhiệt độ không khí Nhiệt độ không khí có ảnh hưởng đến chức năng cơ bản của sự sống đó là quá trình trao đổi nhiệt. Cơ thể con người có khả năng chịu đựng sự thay đổi đáng kể về nhiệt độ của môi trường bên ngoài nhờ những cơ chế sinh lý điều hoà thân nhiệt đặc biệt. Tuy nhiên khả năng điều hoà thân nhiệtcủa cơ thể cũng có những giới hạn nhất định, khi có những biến đổi nhiệt độ không khí quá lớn, các cơ chế điều nhiệt có thể không đảm bảo được việc duytrì sự cân bằng thân nhiệt.