Đặt vấn đề : Mục đích là gợi nhu cầu nhận thức và làm cho HS chấp nhận một cách tự nhiên, lôgíc về nhu cầu thực tế cần có hoặc cần cải tiến đối tượng công nghệ (định hướng khái quát vào bài học). Cách làm : - GV sưu tầm, thu thập các tư liệu lịch sử có liên quan đến nội dung bài học (tiểu sử, chân dung các nhà khoa học ; lịch sử ra đời và phát triển của các phát minh, sáng chế qua các thời kì,. Chúng thường gắn với và mang dấu ấn của con người, mốc thời gian, không gian, sự kiện cụ thể,. - Phân tích cụ thể các tư liệu trên để rút ra nhu cầu xuất hiện đối tượng có liên quan đến nội dung bài học: cần có một máy móc, thiết bị mới, một phương pháp mới, một quy trình mới.
đáp ứng đòi hỏi (về vật chất hoặc tinh thần) của thực tiễn. - Cách phát biểu nhu cầu trên: có thể thông qua một câu chuyện về lịch sử kĩ thuật, một thông tin về một vấn đề bức xúc của sản xuất và đời sống trong quá khứ hoặc hiện tại, .Tức là cá nhân hoá, hoàn cảnh hoá, thời gian hoá lại tri thức khoa học trong bài dạy. Bước 2 : Giải quyết vấn đề và rút ra kết luận Mục đích là làm cho HS tự giác, chủ động tham gia tìm tòi, “khám phá lại” tri thức của bài học. Cách làm -Tổ chức các hoạt động sau : - GV hướng dẫn HS tổng kết các thông tin ở bước trên, bổ sung kiến thức (theo nội dung bài học trong SGK).
- Hệ thống và khái quát hoá lại nội dung bài học dưới dạng các sơ đồ tóm tắt để nêu bật được trọng tâm và lôgíc của bài học. Mục đích để củng cố kiến thức và hướng dẫn cho HS tự học. Tác giả: Lê Thanh Tuấn-Phan Quang Sơn-Nguyễn Tường Linh 13 skkn Trường THPT Nam Khoái Châu Sáng kiến kinh nghiệm 2015 – 2016 Cách làm: Có thể có nhiều cách, tuỳ theo đặc điểm bài học và trình độ HS. Chẳng hạn, GV yêu cầu HS: - Nghiên cứu đối tượng học trên mô hình hoặc vật thật.
- Giải thích các thông số của đối tượng. - So sánh với các đối tượng khác cùng loại hoặc tương tự. - Nhận xét về ý nghĩa và giá trị thực tế của đối tượng. - Giải các bài tập vận dụng định tính hoặc định lượng.
Phương pháp đàm thoại gợi mở - tìm tòi Phương pháp này được áp dụng khi cần : - Hồi phục những kiến thức, kĩ năng có liên quan đến bài học. - Xây dựng quy trình hành động. - Đề xuất, lựa chọn phương án (vật liệu, phương tiện, điều kiện) hành động,. Mối liên hệ giữa kiến thức, kĩ năng đã có của HS với nội dung bài học là yếu tố cơ bản bảo đảm sự thành công của phương pháp đàm thoại.
Do đó, cần phải: - Biết được mặt bằng trình độ hiện có và nhu cầu cụ thể của HS đối với mỗi bài học. - Phân tích nội dung bài học để tìm ra mối liên hệ giữa nội dung này với hiểu biết, kinh nghiệm của HS. - Đặt câu hỏi, vấn đề sao cho HS chấp nhận mối liên hệ đó một cách tự nhiên, lôgíc, kích thích trí tò mò, ham hiểu biết của các em. Câu hỏi dễ hoặc khó quá đều không có tác dụng thu hút sự chú ý của HS.
- Hình dung những khó khăn, sai lầm mà HS có thể mắc phải khi tư duy, suy nghĩ giải quyết vấn đề ; nguyên nhân của những khó khăn, sai lầm đó ; thời điểm và cách gợi ý giúp đỡ cần thiết,. - Nhận xét câu trả lời và động viên kịp thời những ý tưởng, đề xuất của HS (cho dù chưa phải là câu trả lời, phương án đúng nhất). - Tạo dựng, duy trì mối quan hệ hợp tác tích cực giữa thầy và trò trong quá trình dạy học. Tác giả: Lê Thanh Tuấn-Phan Quang Sơn-Nguyễn Tường Linh 14 skkn Trường THPT Nam Khoái Châu Sáng kiến kinh nghiệm 2015 – 2016 Trong quá trình dạy học phương tiện dạy học, TBDH là những phương tiện điều khiển hoạt động nhận thức của HS, giúp HS lĩnh hội kiến thức và rèn luyện kĩ năng (ví dụ như các vật thật, mô hình, hình vẽ mô phỏng đối tượng.
Vì vậy GV cần khai thác triệt để thiết bị dạy học đã có và thiết bị dạy học mới được trang bị để giờ dạy đạt hiệu quả. Để đánh giá đúng kết quả học tập của HS, GV sử dụng các phương pháp trắc nghiệm (trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan). Tóm lại : - Tích cực hoá hoạt động học tập của HS là một định hướng trung tâm, là vấn đề cốt lõi của đổi mới PPGD hiện nay. - Đổi mới dạy học theo hướng này đã có những cơ sở lí luận và cơ sở pháp chế; đã bước đầu được triển khai trong việc xây dựng chương trình, SGK môn học ở trường phổ thông, tạo tiền đề cho việc thực hiện.
- Đổi mới dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của HS còn đang gặp một số khó khăn, trở ngại như cách nghĩ, cách làm của chúng ta hiện nay chưa phù hợp (quan niệm về mục tiêu, nhiệm vụ dạy học : dạy kiến thức là chính hay dạy cách học là chính? Nếu coi trọng đồng thời cả hai thì giải quyết tâm lí ngại cháy giáo án như thế nào? Quan niệm về kỉ luật, trật tự trong lớp học với việc tổ chức các hoạt động và thảo luận? Cách dạy, cách học phổ biến hiện nay ; cách kiểm tra, đánh giá trong giáo dục ; lớp học quá đông, cơ sở vật chất chưa đáp ứng mục tiêu đề ra. Cũng như GV, đối với HS việc chuyển từ thói quen, cách học thụ động sang cách học chủ động, tích cực, độc lập và sáng tạo phải là một quá trình. Quá trình đó không dễ thực hiện được ngay nhưng nó phải được định hướng và khởi đầu từ phía người dạy. Tác giả: Lê Thanh Tuấn-Phan Quang Sơn-Nguyễn Tường Linh 15 skkn Trường THPT Nam Khoái Châu Sáng kiến kinh nghiệm 2015 – 2016 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HỌC TOÁN CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPT NAM KHOÁI CHÂU 2.
Thực trạng học toán của học sinh trường THPT Nam Khoái Châu Hứng thú học tập có vai trò to lớn trong việc nâng cao chất lượng học tập của HS và sự phát triển nhân cách của các em. Trong trường phổ thông môn Toán có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc phát triển các năng lực và phẩm chất trí tuệ cho HS. Vì vậy, hứng thú càng trở nên quan trọng trong việc học tập môn Toán ở trường phổ thông. Hứng thú học môn Toán của HS phổ thông nhìn chung vẫn còn bị hạn chế, không ít em sợ toán, coi việc học toán là một công việc nặng nhọc, căng thẳng.
Nguyên nhân dẫn đến hiện trạng trên có thể do các em chưa nhận biết tầm quan trọng và ý nghĩa của việc học toán, chưa được kích thích hành động tích cực, sáng tạo trong quá trình giải toán.; cũng có thể do nội dung môn Toán khô khan, phương pháp dạy của GV chưa thật sự hấp dẫn,. Mặt khác, trên thực tế những nghiên cứu hình thành hứng thú học môn Toán cho HS phổ thông ở Việt Nam còn chưa được nghiên cứu một cách hệ thống, đặc biệt đối với HS ở những vùng nông thôn. Để tìm hiểu về mức độ hứng thú học toán của học sinh trường THPT Nam Khoái Châu, năm học 2010-2011 chúng tôi đã tiến hành khảo sát 300 học sinh: 100 học sinh khối 10, 100 học sinh khối 11 và 100 học sinh khối 12. Ở mỗi khối chúng tôi đều lựa chọn đồng đều học sinh các lớp.
Kết quả thu được như sau: Với câu hỏi “Bạn có thích học môn toán không ?” chúng tôi nhận được kết quả: Mức độ Rất thích thích Chưa quan tâm Lớp Lớp 10 11% 45% 44% Lớp 11 13% 41% 46% Lớp 12 15% 48% 37% Tác giả: Lê Thanh Tuấn-Phan Quang Sơn-Nguyễn Tường Linh 16 skkn Trường THPT Nam Khoái Châu Sáng kiến kinh nghiệm 2015 – 2016 Với câu hỏi “Bạn nghĩ mình được bao nhiêu điểm môn toán khi thi THPT quốc gia ?” chúng tôi nhận được kết quả: Điểm Từ 7,25 Từ 5 đến 7 Từ 9 đến Lớp Dưới 5 điểm đến 8,75 Điểm 10 điểm 9,75 điểm điểm Lớp 10 41% 43% 16% 0% 0% Lớp 11 52% 41% 7% 0% 0% Lớp 12 55% 37% 8% 0% 0% Mấy năm trở lại đây mặc dù đa số HS đã có ý thức về tầm quan trọng của môn Toán, tuy nhiên chất lượng học tập môn Toán chưa thật sự cao, nhất là chưa đồng đều. Chất lượng chỉ tương đối ổn định ở một số lớp mũi nhọn. Đa số các lớp còn lại, chất lượng thường thấp. Để tìm hiểu về chất lượng môn toán năm học 2010-2011 chúng tôi đã tiến hành kiểm tra khảo sát chất lượng đầu năm cho toàn bộ học sinh của ba khối lớp với tổng số 1243 học sinh, kết quả như sau Điểm Từ 7,25 Dưới 5 Từ 5 đến Từ 9 đến Khối đến 8,75 Điểm 10 điểm 7 điểm 9,75 điểm điểm 10 (412 HS) 44% 41% 13% 2% 0% 11(409 HS) 56% 37% 6,75% 0,25% 0% 12(422 HS) 51% 35% 11% 3% 0% Chất lượng đầu vào thấp, nhiều em đã đậu vào lớp 10 nhưng điểm thi tuyển dưới trung bình.
HS thường mắc phải những sai sót rất cơ bản trong quá trình học tập, chẳng hạn làm sai từ các phép biến đổi đơn giản, cách giải các phương trình, bất phương trình cơ bản…Một số em học sinh lớp 11 do mải chơi, lơ là trong học tập nên không theo kịp mức kiến thức căn bản, ngoài ra do đặc thù kiến thức môn toán lớp 11 tương đối khó với phần đông học sinh, chính vì vậy kết quả khảo sát của các lớp không cao, với khối lớp 12, mặc dù đa số các em đã Tác giả: Lê Thanh Tuấn-Phan Quang Sơn-Nguyễn Tường Linh 17 skkn Trường THPT Nam Khoái Châu Sáng kiến kinh nghiệm 2015 – 2016 ý thức được sự cần thiết của việc học, một số đã có quyết tâm nhưng kiến thức còn hổng chưa kịp bổ xung nên kết quả không cao. Đặc biệt với cả ba khối lớp, mặc dù chúng tôi đã quán triệt tinh thần ra đề sao cho sát với sức học của các em học sinh và phải bám sát cấu trúc của đề thi đại học, tuy nhiên qua khảo sát không một học sinh nào làm được câu điểm 10, không học sinh nào đạt điểm tuyệt đối.