Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1. Các khái niệm chính của đề tài 1. Giáo viên trung học cơ sở Khái niệm giáo viên (GV) được nêu rõ tại Điều 66, Luật Giáo dục (2019) như sau: “Nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong cơ sở giáo dục, trừ cơ sở giáo dục quy định tại điểm c khoản 1 Điều 65 của Luật này”; và “Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục khác, giảng dạy trình độ sơ cấp, trung cấp gọi là giáo viên”. Trong Điều 67 của Luật này cũng quy định rõ những tiêu chuẩn đối với người GV, đó là: 1.
Có phẩm chất, tư tưởng, đạo đức tốt; 2. Đáp ứng chuẩn nghề nghiệp theo vị trí việc làm; 3. Có kỹ năng cập nhật, nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; 4. Bảo đảm sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp.
Theo Điều 72, Luật Giáo dục, trình độ chuẩn được đào tạo của GV THCS là “Có bằng cử nhân thuộc ngành đào tạo giáo viên trở lên đối với giáo viên THCS , trung học cơ sở, trung học phổ thông”. Bồi dưỡng chuyên môn, bồi dưỡng cho giáo viên * Bồi dưỡng chuyên môn: Theo Từ điển Tiếng Việt: “Bồi dưỡng là làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất”. Bồi dưỡng là làm nâng cao trình độ nghề nghiệp. Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn của bản thân để đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp.
Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật kiến thức, kỹ năng vận dụng kiến thức để bù đắp kiến thức còn thiếu hoặc đã lạc hậu so với nhu cầu phát triển của xã hội, thường được xác định bằng chứng chỉ. Do đó bồi dưỡng có những yếu tố cơ bản là: 8 Luan van - Bổ sung kiến thức, kỹ năng, phương pháp để từ đó nâng cao trình độ trong lĩnh vực chuyên môn qua hình thức học tập đào tạo nào đó; Bồi dưỡng có mục đích, mục tiêu, nội dung, chương trình và phương thức cụ thể. - Đối tượng được bồi dưỡng phải có một trình độ chuyên môn nhất định, cần được bồi dưỡng thêm về chuyên môn, nghiệp vụ, chính trị, tin học, ngoại ngữ … để đáp ứng sự nghiệp giáo dục phục vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Tóm lại, khái niệm “Bồi dưỡng ” thường chỉ cho hoạt động dạy học nhằm bổ sung, bồi đắp thêm kiến thức, kỹ năng cho cả người dạy và người học.
Xét về mặt thời gian thì đào tạo thường có thời gian dài hơn, nếu có bằng cấp thì bằng cấp chứng về mặt trình độ, còn bồi dưỡng có thời gian ngắn và có thể có giấy chứng nhân đã học xong khóa bồi dưỡng. Chuyên môn: Theo Từ điển bách khoa Việt Nam ( NXB Hà Nội, 2002) là lĩnh vực riêng, những kiến thức riêng nói chung của một nghành khoa học, kĩ thuật. Bồi dưỡng chuyên môn: Là bồi dưỡng kiến thức chuyên môn; kỹ năng tay nghề; kiến thức, kỹ năng thực tiễn. Bồi dưỡng cho GV có thể coi là việc đào tạo lại, đổi mới, cập nhật kiến thức và kỹ năng chuyên môn, nâng cao trình độ cho GV, là sự nối tiếp tinh thần đào tạo liên tục trước và trong khi làm việc của người giáo viên.
Hoạt động bồi dưỡng chuyên môn đối với mọi GV là thường xuyên, liên tục. Với Đề tài này, hoạt động bồi dưỡng được xác định là hoạt động bồi dưỡng cho giáo viên những kiến thức khoa học liên quan đến các môn học trong chương trình THCS, đồng thời bồi dưỡng cả nghiệp vụ sư phạm để dạy và thực hiện công tác giáo dục được tất cả các khối lớp của THCS theo chuyên môn được đào tạo, đáp ứng các yêu cầu của đối tượng học sinh, yêu cầu đổi mới giáo dục. * Bồi dưỡng cho giáo viên: Khái niệm “bồi dưỡng giáo viên” chỉ việc nâng cao, hoàn thiện trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho các GV đang dạy học. Trong quá trình hoạt động nghề nghiệp của mình, sau một thời gian phát triển, khoa học, kỹ thuật, tri thức của con người cùng với những kiến thức, kỹ năng mà người GV nhận được trước đây trong nhà trường đã trở nên lạc hậu, GV cần cập nhật thêm những tri thức mới về các lĩnh vực nghề nghiệp nhằm nâng cao trình độ mọi mặt 9 Luan van cho đội ngũ GV, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của sự nghiệp “trồng người” (Phạm Minh Hạc) [4].
Như vậy “hoạt động bồi dưỡng giáo viên” là các hoạt động giáo dục nhằm bồi dưỡng GV theo những mục tiêu khác nhau. Theo mục tiêu bồi dưỡng, hoạt động bồi dưỡng giáo viên được phân loại như sau: bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp cho giáo viên THCS; cập nhật kiến thức chính trị, kinh tế - xã hội, cập nhật kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp cho GV; phát triển năng lực nhằm đạt chuẩn và nâng chuẩn nghề nghiệp của GV; bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ năm học của nhà trường và yêu cầu phát triển giáo dục của địa phương; bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục; bồi dưỡng nhằm phát triển năng lực tự học, tự bồi dưỡng của giáo viên; năng lực tự đánh giá hiệu quả BDTX; năng lực tổ chức, QL hoạt động tự học, tự bồi dưỡng GV của nhà trường. Hình thức bồi dưỡng cũng là một khái niệm quan trọng liên quan đến hoạt động BDGV. Trong thực tiễn hoạt động bồi dưỡng GV hiện nay thường áp dụng các hình thức sau: bồi dưỡng tập trung; bồi dưỡng thông qua sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn trong nhà trường; bồi dưỡng thông qua các hoạt động liên trường, cụm trường như: semina, hội thảo, hội thi; bồi dưỡng từ xa qua Internet; tự học, tự bồi dưỡng của giáo viên.
Quản lý Từ khi xã hội loài người có tổ chức, có sự phân công, hợp tác lao động thì cũng từ đó xuất hiện hoạt động quản lý. Quản lý là một hoạt động bắt nguồn tự sự phân công, hợp tác lao động trong một tổ chức nhất định nhằm đạt được hiệu quả lao động cao hơn. Vì vậy quản lý mang tính lịch sử, nó phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người. Theo Vũ Dũng, Phùng Đình Mẫn: “Quản lý là tác động có phương hướng, có mục đích rõ ràng của chủ thể quản lý; quản lý là hoạt động trí tuệ mang tính sáng tạo cao.
Quản lý là một khoa học và là một nghệ thuật” [5]. Hoạt động quản lý bao giờ cũng có chủ thể và đối tượng quản lý. Từ những 10 Luan van đặc điểm trên, có thể khẳng định: Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động hợp quy luật của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt mục tiêu đề ra. Cũng có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm quản lý, sau đây là một số quan điểm chính.
- Theo sự phân tích của K.Mác thì “Bất cứ nơi nào có lao động, nơi đó có quản lý”. Trong tác phẩm: “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” tác giả Harold Kontz viết “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm về thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [ 6, tr. - Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực ( Nhân lực, vật lực, tài lực ) trong và ngoài nước ( Chủ yếu là nội lực ) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [ 7, tr. 127] - Tác giả khoa Sư phạm-Đại học Quốc gia Hà Nội là Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc đưa ra quan niệm: “Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức” [ 8, tr.
Tuy những quan niệm trên có khác nhau, song có thể khái quát: Quản lý là sự tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý bằng những công cụ, phương pháp mang tính đặc thù trong việc thực hiện các chức năng quản lý để đạt được mục tiêu chung của hệ thống. * Quản lý giáo dục: Quản lý giáo dục là sự vận dụng một cách cụ thể các nguyên lý của quản lý nói chung vào lĩnh vực giáo dục. Tuy nhiên, cần làm rõ nội hàm khái niệm, để từ cơ sở lý thuyết đó giúp xác định nội dung và các biện pháp quản lý giáo dục đạo đức trong công tác quản lý nhà trường. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, QLGD theo nghĩa tổng quát là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý trong hệ thống giáo dục, là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân, điều hành các cơ sở giáo dục 11 Luan van nhằm thực hiện mục tiêu đẩy mạnh công tác giáo dục theo yêu cầu phát triển của xã hội ( Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài ) [9, tr.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: Khái niệm về QLGD:“Là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [10, tr. Theo tác giả Trần Kiểm, khái niệm quản lý giáo dục đối với cấp vĩ mô: “Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [ 11, tr. Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là quản lý trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [ 12, tr.