mở đầu cho quá trình đạt được các thỏa thuận vào đầu năm 2009, là một dấu hiệu thể hiện sự đoàn kết của cộng đồng quốc tế cùng ứng phó biến đổi khí hậu. Hội nghị các bên lần này đóng một vai trò quan trọng trong việc thành lập một chương trình nghị sự ứng phó với biến đổi khí hậu trong tương lai. Báo cáo “Ảnh hưởng của mực nước biển dâng cao đối với các nước đang phát triển: Phân tích so sánh” của ngân hàng Thế Giới (WB) công bố đầu năm 2007 cho biết: Mực nước biển chỉ cần dâng thêm 1m thì sẽ gây hiểm họa lớn đối với các nước có vùng dân cư và đời sống kinh tế tập trung ở các 9 vùng đồng bằng thấp ở ven biển. Theo báo cáo tình trạng môi trường biển của chương trình hành động toàn cầu thuộc UNEP (2006), thì hiện nay, gần 40% dân số thế giới sống tại các vùng ven biển hẹp (chỉ chiếm 6,7% diện tích bề mặt Trái Đất) và phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Mật độ dân số tại khu vực bờ biển có thể tăng từ 77 người/km2 năm 1990, lên tới 115 người/km2 năm 2025. Với nguy cơ nước biển dâng cao do biến đổi khí hậu, ảnh hưởng đối với các cộng đồng ven biển là không thể tránh khỏi. Còn theo đánh giá của Chương trình Liên Hợp Quốc (UNDP, 2007), Việt Nam nằm trong top 5 nước đứng đầu thế giới dễ bị tổn thương nhất trước sự biến đổi khí hậu. Nếu mực nước biển tăng 1m, Việt Nam sẽ mất 5% diện tích đất đai, 11% người mất nhà cửa, giảm 7% sản lượng nông nghiệp và 10% thu nhập quốc nội (GDP).
Nước biển dâng 3-5m đồng nghĩa với một thảm họa có thể xảy ra ở Việt Nam. Việt nam phải xây dựng kịch bản thích ứng và đối phó chi tiết vấn đề khí hậu và nước biển dâng, để từ đó đưa ra các chính sách, chương trình hành động đúng, bởi biến đổi khí hậu không chỉ đơn giản là vấn đề của từng ngành, mà liên quan đến nhiều vấn đề kinh tế, xã hội khác. Như vậy, Trái Đất nóng lên, nước biển dâng cao và biến đổi khí hậu đến nay không còn là vấn đề riêng của một nước nào mà đó là vấn đề chung, là trách nhiệm của toàn cầu. Các quốc gia trên thế giới đang rất nỗ lực xây dựng và thực hiện các hành động chiến lược nhằm thích ứng với sự nóng lên toàn cầu, ngăn ngừa và hạn chế sự tác động của các hiện tượng khí hậu cực đoan do biến đổi khí hậu như nước biển dâng.
Tài liệu này tổng hợp chung về tình hình biến đổi khí hậu và đánh giá những ảnh hưởng của sự gia tăng mực nước biển đối với một số quốc gia có biển trong khu vực, dựa trên tổng hợp thông tin từ báo cáo lần 4, xuất bản năm 2007 của Ủy ban Liên chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC), Báo cáo “Ảnh hưởng khi mực nước biển dâng cao 10 đối với các nước đang phát triển: Phân tích so sánh” của Ngân hàng thế giới (WB), Báo cáo Phát triển con người 2007-2008 của Chương trình phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP), tài liệu về thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng của một số quốc gia trong khu vực như Trung Quốc, Bănglađét cùng một số kết qủa điều tra khảo sát của các nhà khoa học Việt Nam. Hy vọng rằng những đánh giá trên sẽ cung cấp thông tin cho Việt Nam trong việc xây dựng chiến lược và các chương trình nhằm thích ứng với sự biến đổi khí hậu, giảm thiểu những tổn thất do biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng cao, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển bền vững, hài hòa giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Những nghiên cứu trong nước Ngày 05 tháng 12 năm 2011 Thủ tướng chính phủ ban hành quyết định số 2139/QĐ-TTg, phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu. Mục tiêu của chiến lược là: (1) đảm bảo an ninh lương thực, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, xóa đói giảm nghèo, bình đẳng giới, an sinh xã hội, sức khỏe cộng đồng, nâng cao đời sống, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên trong bối cảnh biến dổi khí hậu; (2) Nền kinh tế các-bon thấp, tăng trưởng xanh trở thành xu hướng chủ đạo trong phát triển bền vững; giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính dần trở thành chỉ tiêu bắt buộc trong phát triển kinh tế - xã hội; (3) Nâng cao nhận thức, trách nhiệm và năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu và các bên liên quan; phát triển tiềm lực khoa học và công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực; hoàn thiện thể chế, chính sách, phát triển và sử dụng hiệu qủa nguồn lực tài chính góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế và vị thế của Việt Nam; tận dụng các cơ hội từ biến đổi khí hậu để phát triển kinh tế - xã hội; phát triển và nhân rộng lối sống, mẫu hình tiêu thụ thân thiện với hệ thống khí hậu.
(4) Góp phần tích cực với cộng đồng quốc tế trong 11 ứng phó với biến đổi khí hậu; tăng cường các hoạt động hợp tác quốc tế của Việt Nam để ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu. Bên cạnh đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quyết định số 4620/QĐ-BGDĐT về việc ban hành kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu của ngành giáo dục giai đoạn 2011-2015. Tiếp đến, ngày 25 tháng 01 năm 2014 Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số 329/QĐ-BGDĐT về việc phê duyệt đề án “Thông tin, tuyên truyền về ứng phó với biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai trong trường học giai đoạn 2013-2020”. Trên cơ sở kế hoạch này đã có nhiều đề tài, dự án về ứng phó với biến đổi khí hậu được triển khai thực hiện trong ngành giáo dục; Mới đây nhất, ngày 29 tháng 01 năm 2016 Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Quyết định số 172/QĐ-BKHCN Về việc phê duyệt Chương trình khoa học và công nghệ cấp quốc gia “khoa học và công nghệ ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên và môi trường gai đoạn 2016-2020”.
Chương trình hướng đến 03 mục tiêu cơ bản: (1) Ứng dụng có hiệu quả công cụ, mô hình tiên tiến trong giám sát biến đổi khí hậu và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính phù hợp với điều kiện Việt Nam; (2) Đề xuất các biện pháp hiệu quả nhằm giảm thiểu ảnh hưởng của triều cường, ngập lụt, hạn hán, xâm nhập mặn do tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng gây ra tại các vùng trọng điểm ( Đồng bằng sông Cửu Long, ven biển miền Trung và Đồng bằng sông Hồng); (3) Cung cấp luận chứng khoa học cho việc đánh giá tiềm năng, giá trị của một số tài nguyên quan trọng trên đất liền và biển, hải đảo, đồng thời đề xuất các định hướng quy hoạch, quản lí và khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững các ngồn tài nguyên quốc gia; (4) Làm rõ quan hệ và lượng giá biến đổi khí hậu - tài nguyên - môi trường - hệ sinh thái, theo đó đề xuất các giải pháp phát triển bền vững, quản lý tổng hợp tại một số vùng trọng điểm. CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Hoạt động giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu 1. Biến đổi khí hậu Khí hậu là tổng hợp diễn biến của các yếu tố thời tiết tại một vùng đất lớn và cố định trên thế giới, khí hậu có chu kỳ là theo năm.
Biến đổi khí hậu là sự bất thường của khí hậu so với diễn biến bình thường và duy trì trong một khoảng thời gian dài. Biến đổi khí hậu có nguyên nhân trực tiếp là do nhiệt dộ không khí tăng cao. Nguyên nhân sâu xa là do người ta phát thải khí nhà kính và phá rừng nên khí nhà kính không được hấp thu, tồn đọng ngày càng nhiều trong không khí, hấp thu nhiệt của mặt trời làm cho không khí bị nóng lên. Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu mà nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp bởi hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và tác động thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh được (Công ước chung của Liên Hợp Quốc về BĐKH tại hội nghị Thượng đỉnh về môi trường tại Rio de Janero (Branxin – năm 1992).
Nói một cách khác biến đổi khí hậu là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc hàng trăm năm và lâu hơn. Ứng phó với biến đổi khí hậu Thông thường để ứng phó với biến đổi khí hậu có hai cách giảm nhẹ thiệt hại do biến đổi khí hậu và thích ứng với nó. - Giảm nhẹ: Theo Ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (IPCC) giảm nhẹ có nghĩa là sự can thiệp của con người nhằm làm giảm nguồn phát thải khí nhà kính, hoặc cải thiện các bể chứa khí nhà kính. - Thích ứng: Khái niệm này thường được dùng để đề cập đến khả năng tự điều chỉnh của một hệ thống để thích nghi với những biến đổi của khí hậu 13 nhằm giảm nhẹ những nguy cơ thiệt hại, để đối phó với những hậu quả (có thể xảy ra) hoặc tận dụng những cơ hội.
Quản lý hoạt động giáo dục ứng phó với biến đổi khí hậu 1. Quản lý Cho đến nay có rất nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý: Theo từ điển tiếng anh Oxford, thuật ngữ quản lý xuất phát từ tiếng Pháp – main, nghĩa là “tay”, liên hệ đến việc “thuần hóa, điều khiển và hướng dẫn con ngựa trong bước đi của nó”. - Theo từ điển tiếng Việt “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kế hoạch hóa sự phát triển, kiểm soát tổ chức đó có tính đến yếu tố đặc thù và môi trường xung quanh”.