CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOÀI TRỜI CHO TRẺ TRƯỜNG MẪU GIÁO 1. LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài KNS và vấn đề GD KNS cho con người đã xuất hiện và được nhiều người quan tâm như học ăn, học nói, học gói, học mở, học dăm ba chữ để làm người, học để đối nhân xử thế, học để đối phó với thiên nhiên. Đó là những KN đơn giản nhất mang tính chất kinh nghiệm, phù hợp với đời sống và giai cấp của XH ở những thời điểm khác nhau [1, tr.
KNS có chủ yếu trong các chương trình hành động của Tổ chức văn hoá, khoa học và GD của Liên hợp quốc, Tổ chức y tế thế giới, Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc cũng như trong các chương trình hành động của các tổ chức XH trong và ngoài nước,… ở hướng nghiên cứu này, các tác giả chủ yếu xây dựng hệ thống các KN của từng loại hoạt động, mô tả chân dung các kĩ năng cụ thể và các điều kiện, quy trình hình thành và phát triển hệ thống các kĩ năng đó,… Trong chương trình này chỉ giới thiệu những kĩ năng cơ bản như: kĩ năng nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng xác định giá trị và KN ra quyết định [4, tr. Theo Tổ chức văn hoá, khoa học và GD của Liên hợp quốc thì KNS gắn với 4 trụ cột của GD, đó là: Học để biết, gồm các KN tư duy như: giải quyết vấn đề, tư duy phê phán, ra quyết định, nhận thức được hậu quả,; Học làm người gồm các KN cá nhân như: ứng phó với căng thẳng, cảm xúc, tự nhận thức, tự tin,; Học để sống với người khác, gồm các KN xã hội như; giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông; Học để làm, gồm KN thực hiện công việc và các nhiệm vụ như KN đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm [4, tr. Ở phương Tây, giáo dục GĐ và NT đặc biệt quan tâm đến việc rèn luyện các KNS sót cho trẻ nhỏ. Việc bảo toàn mạng sống của mình, những ứng biến khôn ngoan để sống sót trong những hoàn cảnh ngặt nghèo, khắc nghiệt, trong những sự 7 cố bất ngờ là kỹ năng quan trọng bậc nhất, thậm chí còn quan trọng hơn cả việc học kiến thức [4, tr.
Vấn đề GD KNS tại Lào. Từ năm 1997 - 2002, lần đầu tiên GD KNS được thực hiện trong 5 trường trung học cơ sở thuộc một tỉnh, sau đó đã mở rộng ra 700 trường tiểu học và trung học thuộc 8 tỉnh. Với những nội dung cơ bản như: kĩ năng giao tiếp có hiệu quả; kĩ năng tư duy sáng tạo; kĩ năng giải quyết vấn đề [13, tr. Tại Campuchia người ta coi KNS là năng lực mà con người cần phải có để nâng cao các điều kiện sống có hiệu quả nhằm phát triển quốc gia, kĩ năng tìm việc và kiếm tiền để nuôi sống bản thân và GĐ là những KNS quan trọng đối với thế hệ trẻ và người lớn [13, tr.
Ở Malaysia vấn đề GD KNS coi là môn kĩ năng của cuộc sống và môn này được dạy như một môn học ở trường tiểu học và THCS. GD KNS ở Malaysia được xem xét và nghiên cứu dưới 3 góc độ: Các kĩ năng thao tác bằng tay, kĩ năng thương mại và đấu thầu, KNS trong đời sống GĐ. Tại Indonesia KNS được quan niệm là những kĩ năng, kiến thức, thái độ giúp người học sống một cách độc lập. GD KNS sẽ: Nâng cao cơ hội việc làm cho người học Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực từ đó thúc đẩy việc thực hiện chính sách tự chủ của địa phương Tạo ra chất lượng GD cho người nghèo và người có hoàn cảnh đặc biệt [13, tr.
Tại Thái Lan họ quan niệm, KNS là thuộc tính hay năng lực tâm lý XH giúp cá nhân đương đầu với tất cả tình huống hàng ngày một cách hiệu quả và có thể đáp ứng với hoàn cảnh tương lai để có thể sống hạnh phúc. Nói cách khác, KNS là khả năng của cá nhân có thể giải quyết những vấn đề trong đời sống hàng ngày để an toàn và hạnh phúc. Và ít nhất cần hình thành cho người học 10 KNS cơ bản sau: Ra quyết định; Giải quyết xung đột; Sáng tạo; Phân tích và đánh giá; Giao tiếp; Quan hệ liên nhân cách; Làm chủ cảm xúc; Làm chủ được những cú sốc; Đồng cảm; Thực hành [13, tr. 8 Tại Ấn Độ KNS được coi là khả năng giúp tăng cường sự lành mạnh về tinh thần và năng lực của con người.
Bao gồm những kĩ năng cơ bản như: Giải quyết vấn đề; Tư duy phê phán; Tư duy sáng tạo; Giao tiếp; Quan hệ liên nhân cách; Ra quyết định; Đàm phán; Tự nhận thức; Đối phó với stres và cảm xúc; Từ chối; Kiên định và hài hoà. GD KNS cho TE được xem xét dưới góc độ giúp cho con người sống một cách lành mạnh về thể chất, tinh thần, nhằm phát triển năng lực. Các KNS được khai thác GD là các kĩ năng: Giải quyết vấn đề, tư duy phê phán, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng quan hệ liên nhân cách,. Tại Nepal GD KNS được coi như là một phương thức để ứng phó hay là những kĩ năng cần thiết để tồn tại.
Cách phân biệt KNS cũng có những điểm khác biệt. Chẳng hạn họ phân loại KNS thành: Kĩ năng tồn tại: là những kĩ năng cần có để con người có thể tồn tại. Kĩ năng chung: là những kĩ năng giúp con người tìm ra và giải quyết được những vấn đề của cuộc sống. Kĩ năng dịch chuyển: là sự kết hợp của kĩ năng tồn tại kĩ năng chung và kĩ năng nghề nghiệp.
Giúp con người nhanh chóng thích ứng với việc phải chuyển sang nghề nghiệp mới [13, tr. Tại Philipine, với quan niệm coi KNS là những năng lực thích nghi và tính tích cực của hành vi giúp cho cá nhân có thể ứng phó một cách hiệu quả với những yêu cầu, những thay đổi, những trải nghiệm và tình huống của đời sống hàng ngày. Vì vậy những kĩ năng cần thiết khi GD KNS cho người học cần có là: Tự nhận thức; Đồng cảm; Giao tiếp hiệu quả; Quan hệ liên nhân cách; Ra quyết định; Tư duy sáng tạo; Tư duy phê phán; Ứng phó; Làm chủ cảm xúc [13, tr. Ở Bangladesh GD KNS được khai thác dưới góc độ các kĩ năng hoạt động XH, kĩ năng phát triển, kĩ năng chuẩn bị cho tương lai [13, tr.
Các nghiên cứu ở trong nước Bắt đầu từ chương trình của Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc năm 1996 “GD KNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và 9 ngoài NT”. Thuật ngữ KNS được người Việt Nam biết đến. Lúc đó quan niệm về KNS được giới thiệu trong chương trình này chỉ bao gồm những kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng đặt mục tiêu nhằm vào những chủ đề GD sức khỏe do các chuyên gia Úc tập huấn. Đến giai đoạn hai với chương trình “GD sống khỏe mạnh và KNS” thì quan niệm về KNS cơ bản đối với từng nhóm đối tượng được vận dụng đa dạng hơn.
Đó là những kĩ năng cần cho lĩnh vực bảo vệ sức khỏe, phòng tránh các tệ nạn XH dành cho nhóm đối tượng có nguy cơ cao để đương đầu với những thách thức của XH, vận dụng để giải quyết các vấn đề XH khác nhau trong tình huống khác nhau của từng loại đối tượng. Sau hội thảo “Chất lượng GD và KNS” do Tổ chức văn hoá, khoa học và GD của Liên hợp quốc tài trợ được tổ chức năm 2003 thì khái niệm KNS được hiểu với nội hàm đầy đủ và đa dạng. Từ đó, những người làm công tác GD Việt Nam đã hiểu đầy đủ hơn về KNS và trách nhiệm phải GD KNS cho người học [32, tr. GD KNS là yếu tố quan trọng góp phần đổi mới toàn diện nền GD và ĐT gắn với 4 mục tiêu quan trọng của GD: học để biết, học để làm, học để chung sống và học để khẳng định mình.
Khái niệm “KNS” thực sự được hiểu với nội hàm đa dạng sau hội thảo “Chất lượng GD và KNS” do Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc, Viện chiến lược và chương trình GD tổ chức từ ngày 23 đến ngày 25 tháng 10 năm 2003 tại Hà Nội. Từ năm học 2002 - 2003 ở Việt Nam đã thực hiện đổi mới GD phổ thông trong cả nước. Trong chương trình tiểu học đổi mới đã hướng đến GD KNS thông qua lồng ghép một số môn học có tiềm năng như: GD đạo đức, Tự nhiên - Xã hội (ở lớp 1 - 3) và môn Khoa học (ở lớp 4 - 5). KNS được GD thông qua một số chủ đề: “Con người và sức khoẻ”.
Đề tài nghiên cứu về “Thực trạng KNS cho trẻ em và đề xuất một số giải pháp về giáo dục KNS cho trẻ em” [4, tr. Ngoài ra còn một số nghiên cứu khác như: Tác giả nghiên cứu về “KNS với bậc Trung học phổ thông” [34]. 10 Đề tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành QL và tổ chức văn hoá - GD “Những biện pháp QL GD KNS cho TE của HT các trường THPT tỉnh Trà Vinh”. Nội dung đề tài đã khái quát về thực trạng GD KNS sống các trường THPT tỉnh Trà Vinh trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp về nâng cao nhận thức, tổ chức hình thức QL, tăng cường đánh giá chất lượng GD KNS,.
Đề tài luận văn Thạc sĩ khoa học GD: “Công tác QL của HT trong việc tổ chức GD KNS cho TE ở các trường THPT huyện Châu Thành, Đồng Tháp” [38]. Đề tài “KNS và GD KNS cho sinh viên các trường cao đẳng thành phố Đà Nẵng”. Luận văn thạc sĩ GD, trường Đại học sư phạm Vinh [20]. Đề tài “Biện pháp GD KNS của GV chủ nhiệm lớp cho sinh viên nội trú ở trường Cao đẳng sư phạm Nha Trang , Khánh Hòa”.
Đề tài đã phân tích thực trạng và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả GD KNS cho sinh viên nội trú như nâng cao nhận thức, cải tiến hình thức GD, phương thức và tăng cường nội dung GD KNS cho sinh viên. Đề tài “Biện pháp QL GD KNS cho TE các trường tiểu học quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng”. Luận văn thạc sĩ QLGD trường Đại học Vinh.