CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ TRONG LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Tại Đại hội X, Đảng chủ trương đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Một trong những điểm lưu ý là nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, nội dung, phương pháp dạy và học; thực hiện "chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá", chấn hưng nền giáo dục Việt Nam. Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa các bậc học, ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người và những hình thức học tập, thực hành linh hoạt, đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên; tạo nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học, bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục.
Theo đó, xây dựng một xã hội học tập vừa là mục tiêu hướng tới của nền giáo dục Việt Nam trong thời kỳ mới, vừa là đòi hỏi mang tính tất yếu khách quan trong bối cảnh nền kinh tế tri thức, toàn cầu hóa đang diễn ra vô cùng mạnh mẽ. Xây dựng cả nước thành một xã hội học tập được dựa trên nền tảng phát triển đồng thời, gắn kết, liên thông cả hai bộ phận cấu thành: giáo dục chính quy và giáo dục thường xuyên, thực hiện các chương trình học tập nhằm tạo ra các điều kiện tốt nhất đáp ứng mọi yêu cầu học tập suốt đời học tập liên tục của mọi công dân. Nó là một bộ phận có chức năng quan trọng, làm tiền đề để xây dựng xã hội học tập. Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt của Lực lượng vũ trang nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.
Công tác giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng trong CAND nói chung, công tác giáo dục thường xuyên (trong đó bao gồm cả bồi dưỡng nghiệp vụ) nói riêng quyết định chất lượng đội ngũ và gắn liền với nhu cầu sử dụng nhân lực của Ngành 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Công an. Hoạt động đào tạo và bồi dưỡng trong CAND vừa thực hiện chương trình giáo dục để cấp văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân, vừa thực hiện nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng các chức danh lãnh đạo, quản lý và các chức danh nghiệp vụ chuyên môn, nghề nghiệp và các kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ theo yêu cầu của công tác Công an. Các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng trong CAND vừa là nơi tổ chức thực hiện quá trình xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, vừa là đơn vị tập trung lực lượng có tính chất dự bị để sẵn sàng chi viện phục vụ kịp thời yêu cầu công tác của Ngành. Mục tiêu cao nhất là xây dựng đội ngũ cán bộ công an đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, đồng bộ về cơ cấu, có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, có ý chí kiên cường bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội, có phẩm chất, năng lực, ý thức tổ chức kỷ luật, có tư duy sáng tạo, giỏi nghiệp vụ, nắm chắc pháp luật, am hiểu kiến thức xã hội, nắm vững và vận dụng tốt kiến thức khoa học, công nghệ kỹ thuật hiện đại phục vụ công tác và chiến đấu.
Để đạt mục tiêu trên, công tác giáo dục thường xuyên nói chung, công tác bồi dưỡng thường xuyên trong CAND nói riêng phải đổi mới toàn diện và đồng bộ. Một trong những đổi mới cơ bản, quan trọng, cấp thiết là đổi mới công tác quản lý giáo dục. Vì suy cho cùng mọi thành công hay thất bại trong giáo dục đều bắt nguồn và có nguyên nhân từ công tác quản lý giáo dục. Đã có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu về quản lý công tác bồi dưỡng, như: Đề tài KX07-14: “Bồi dưỡng và đào tạo lại đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới” do Nguyễn Minh Đường làm chủ nhiệm đề tài; Nguyễn Minh Đường, Phan Văn Kha (đồng chủ biên) với cuốn: Đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế” (2006); Đề án và hai chương trình trọng điểm về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khối hành chính nhà nước đến năm 2000 của Ban Tổ chức Chính phủ; Đề án: “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức nhà nước” được Chính phủ thông qua tháng 8/1996; đề tài Luận văn Quản lý hoạt động bồi 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dưỡng nghiệp vụ sư phạm đại học của Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội; Lê Trần Lâm với “Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên”(1992); Phạm Trung Thành và Nguyễn Thị Lý với “Rèn luyện nghiệp vụ Sư phạm thường xuyên” (2004); Nguyễn Kiều Oanh với luận án Tiến sĩ giáo dục: "Quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên Đại học theo cách tiếp cận CDIO (2013); Phạm Hồng Hải với đề tài luận văn Thạc sĩ: “Quản lý công tác huấn luyện giáo dục Quốc phòng - An ninh cho sinh viên tại Trung tâm giáo dục Quốc phòng Hà Nội I” (2012);… Về nghiên cứu công tác bồi dưỡng nghiệp vụ trong Công an nhân dân có đề tài: “Thực trạng và giải pháp của công tác đào tạo lại và bồi dưỡng thường xuyên trong lực lượng CAND” do Trịnh Văn Đãi chủ nhiệm đề tài; đề tài: “Giải pháp thực hiện công tác bồi dưỡng chức danh trong lực lượng CAND” do Nguyễn Đăng Sáu chủ nhiệm đề tài; đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác đào tạo lại và bồi dưỡng nghiệp vụ của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong tình hình mới” do Nguyễn Duy Thư chủ nhiệm đề tài.
Các đề tài, công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến các khía cạnh khác nhau của công tác bồi dưỡng thường xuyên trong Công an nhân dân. Tuy nhiên chưa có đề tài nào tìm hiểu về biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng thường xuyên tại một cơ sở giáo dục cụ thể trong Ngành CAND. Khái niệm cơ bản của đề tài 1. Khái niệm quản lý Quản lý là một dạng lao động xã hội đặc biệt, điều khiển các hoạt động lao động, vừa có tính khoa học, tính nghệ thuật, vừa là sản phẩm có tính lịch sử.Marx đã viết: “Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn, đều cần ở một chừng mực nhất định đến sự quản lý; quản lý xác định sự tương hợp giữa các công việc cá thể và hoàn thành những chức năng chung xuất hiện trong sự vận động của các bộ phận riêng rẽ của nó” [27, tr.19] 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản lý là một trong những loại hình lao động có hiệu quả nhất, quan trọng nhất trong các hoạt động của con người.
Quản lý đúng tức là con người đã nhận thức được quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được những thành công to lớn. Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của cá nhân, của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng hơn tầm quốc gia, quốc tế thì đều phải thừa nhận và chịu một sự quản lý nào đó. Tùy theo cách tiếp cận, thuật ngữ “quản lý” được hiểu theo nhiều cách khác nhau. Quan điểm triết học cho rằng: “Quản lý là một quá trình liên kết thống nhất giữa chủ quan và khách quan để đạt mục tiêu nào đó.
Quan điểm chính trị xã hội cho rằng: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [6, tr.7] - Theo quan điểm hệ thống: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến đổi của môi trường” [26, tr. Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên rất phổ biến và được sự quan tâm đặc biệt, khoa học quản lý được quan tâm nghiêm cứu trên nhiều khía cạnh. Các tác giả trong và ngoài nước đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm “quản lý”: - W. Taylor cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [27, tr.
- Theo Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của tổ chức” [27, tr. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất và quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người - thành viên của hệ - nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt mục đích dự kiến. Theo tác giả Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định” [20, tr. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung” [1, tr.
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”[12, tr.