Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý công tác học sinh, sinh viên ở trường cao đẳng. Thực trạng quản lý công tác học sinh, sinh viên tại trường Cao đẳng nghề Công nghệ cao Hà Nội. Biện pháp quản lý công tác học sinh, sinh viên tại trường Cao đẳng nghề Công nghệ cao Hà Nội.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CÔNG TÁC HỌC SINH, SINH VIÊN Ở TRƢỜNG CAO ĐẲNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề. Giáo dục là một chức năng của xã hội loài người, được coi là nền móng cho sự phát triển của mỗi cá nhân và xã hội. Có thể khẳng định rằng không có giáo dục thì không có sự phát triển nào về kinh tế, văn hóa, sự văn minh, tiến bộ của loài người.
Cũng như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, sự ra đời của hoạt động giáo dục gắn liền với sự ra đời của hoạt động quản lý giáo dục và từ đó cũng xuất hiện khoa học về QLGD. Người học là nhân vật trung tâm của nhà trường, là một trong những đối tượng quan trọng của QLGD. Người học vừa là đối tượng đào tạo, vừa là mục tiêu đào tạo. Để nâng cao chất lượng đào tạo ngoài việc xem xét các yếu tố người dạy, nội dung, chương trình, cơ sở vật chất.thì không thể không nghiên cứu trực tiếp là đối tượng người học.
Một trong các yêu cầu bức thiết đặt ra để nâng cao chất lượng đào tạo là quản lý người học như thế nào để đạt được hiệu quả và mục tiêu giáo dục. Do đó, công tác HSSV là một trong những nội dung quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường. Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài báo trong và ngoài nước viết về biện pháp quản lý công tác học sinh, sinh viên trong nhà trường và được ứng dụng trong và ngoài nhà trường và là mô hình học tập sâu rộng. Các nghiên cứu về Quản lý nói chung và Quản lý Công tác HSSV ở nước ngoài Quản lý công tác HSSV cũng là một trong rất nhiều nội dung trong quản lý.
Những quan niệm về quản lý đã bắt đầu rất sớm. Ở phương Đông, đó là các thuyết quản lý của Khổng tử (thuyết Đức trị), Hàn Phi Tử (280 – 233 Trước công nguyên, thuyết Pháp trị)… Ở phương Tây, các tư tưởng quản lý sơ khai cũng được đề cập bởi các nhà Triết học cổ Hy Lạp như: tác giả 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Socrate (469 – 399 Trước công nguyên), Platon (427 – 347 Trước công nguyên), Arixtot (384 – 322 Trước công nguyên) …Ở thời hiện đại phải kể đến các thuyết quản lý khoa học của của F. Công tác HSSV tại các trường đại học ở nước ngoài gắn với công tác tạo điều kiện, môi trường cho HSSV chủ động thực hiện nhiệm vụ học tập và cung cấp điều kiện tự học, tự nghiên cứu. Việc can thiệp sâu vào đời sống của HSSV không được đặt ra, điều này có thể tìm ở sách có tên “ Reform in student affairs” của Bloland Paul, L.
Các nghiên cứu ở trong nước Đã có nhiều công trình nghiên cứu về QLGD nói chung và quản lý công tác HSSV nói riêng. Một số nhà nghiên cứu về QLGD tiêu biểu ở nước ta phải kể đến như: Phạm Minh Hạc, Đặng Quốc Bảo, Hồ Ngọc Đại, Nguyễn Ngọc Quang, Trần Kiểm, Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Thị M Lộc, Bùi Minh Hiền, Nguyễn Xuân Thức, Trần Bá Hoành… Các nhà nghiên cứu này đã đóng góp nhiều công trình có ý nghĩa cho lĩnh vực QLGD của nước nhà và là nguồn tài liệu tham khảo vô giá cho các thế hệ đi sau học tập và nghiên cứu. Các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề quản lý công tác HSSV ở trong nước có thể kể đến như: Tác giả Hoàng Thị Thu Hương (2011) đã nghiên cứu đề tài “Quản lý công tác học sinh tại Trường Trung cấp nghề Thái Bình trong giai đoạn hiện nay”. Đề tài chủ yếu nghiên cứu về các vấn đề xây dựng mục tiêu công 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tác HS theo định hướng nghề nghiệp đồng thời triển khai kế hoạch một cách tối ưu nhất trong việc quản lý công tác HS, nhằm giáo dục HS có ý thức tự giác chủ động trong học tập, tác phong nghề nghiệp phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước [21].
Tác giả Tô Văn Sông (2007) đã nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp quản lý Công tác HSSV ở Trường Cao đẳng Kinh tế – K thuật Hải Dương trong giai đoạn hiện nay”. Trong đề tài của mình, tác giả đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý công tác HSSV ở Trường cao đẳng Kinh tế – K thuật Hải Dương; từ đó đề xuất các biện pháp để nâng cao hiệu quả quản lý công tác HSSV [28]. Nhìn chung, đã có nhiều bài viết về vấn đề quản lý công tác HSSV các trường ĐH-CĐ từ nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, chưa có một đề tài nào nghiên cứu về vấn đề quản lý công tác HSSV ở Trường Cao đẳng nghề Công nghệ cao Hà Nội, một trong những trường cao đẳng được được Thành phố Hà Nội chọn làm cơ sở đào tạo nghề trọng điểm của thành phố và khu kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.
Chính vì thế, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý công tác Học sinh - Sinh viên tại trường Cao đẳng nghề Công nghệ cao Hà Nội” để từ đó làm rõ thực trạng và đề xuất các biện pháp quản lý công tác HSSV để góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng đào tạo của Nhà trường. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Quản lý là một hoạt động xuất hiện từ lâu trong xã hội loài người và hoạt động ngày càng phát triển trong xã hội. Trong quá trình lãnh đạo, đấu tranh với thiên nhiên để sinh tồn và phát triển, con người cần phải hợp sức nhau lại để tự bảo vệ và kiếm kế sinh sống.
Điều đó đòi hỏi phải có sự tổ chức, phải có sự phân công và hợp tác trong lao động. Hoạt động quản lý bắt 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nguồn từ sự phân công lao động của xã hội loài người nhằm đạt mục đích, hiệu quả và năng suất cao hơn. Đó chính là hoạt động giúp cho người đứng đầu tổ chức phối hợp sự nổ lực của các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng đạt mục tiêu đề ra. Nơi nào có hoạt động chung thì nơi đó có quản lý.
Ngày nay thuật ngữ quản lý trở thành phổ biến và có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng chưa có một định nghĩa chính xác nhất được tất cả mọi người chấp nhận hoàn toàn. Tuy vậy các định nghĩa đưa ra đều có những điểm chung, thống nhất ở một mức độ nhất định. Nói đến hoạt động quản lý, người ta thường nhắc đến ý tưởng sâu sắc của Các Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa sự hoạt động của cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng ” [10,tr.
Theo Harol Coontz: “Quản lý là một dạng thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục tiêu của nhóm. Ngoài ra ông còn cho rằng: Mục tiêu của nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học”.33] Nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam, xuất phát từ các góc độ khác nhau cũng đã đưa ra những khái niệm quản lý: Theo Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hưỡng của chủ thể (người quản lý, người tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, xã hội, văn hóa, kinh tế. bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biện pháp cụ thể, nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [16; tr.
Xuất phát từ các loại hình hoạt động quản lý, các tác giả Nguyễn Quốc Chính và Nguyễn Thị M Lộc cho rằng “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [12,tr. Theo quan điểm hệ thống của tác giả Đỗ Hoàng Toàn thì: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được các mục tiêu đã đặt ra trong điều kiện biến đổi của môi trường” [29, tr. Tác giả Phan Văn Kha cho rằng “Quản lý là một tập hợp các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các quá trình tự nhiên, xã hội, khoa học, kĩ thuật và công nghệ để chúng phát triển hợp quy luật, các nguồn lực (hiện hữu và tiềm năng) vật chất và tinh thần, hệ thống tổ chức và các thành viên thuộc hệ thống để đạt được các mục đích đã định” [22; tr10]. Từ những quan niệm này cho thấy, quản lý là quản lý là những tác động có tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật,…) của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu dự kiến.
Quản lý giáo dục Nhà nước quản lý mọi hoạt động của xã hội, trong đó có hoạt động giáo dục. Nhà nước QLGD thông qua tập hợp các tác động hợp quy luật được thể chế hóa bằng pháp luật của chủ thể quản lý, nhằm tác động đến các phân hệ quản lý để thực hiện mục tiêu giáo dục mà kết quả cuối cùng là chất lượng, hiệu quả đào tạo thế hệ trẻ. Đã có nhiều nghiên cứu về quản lý nói chung cho nên cũng có nhiều khái niệm khác nhau về QLGD. Theo Phạm Khắc Chương: “Quản lý giáo dục theo nghĩa rộng nhất là quản lí quá trình hình thành và phát triển nhân cách con người trong các chế 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.