đặt vấn đề ƣu tiên hàng đầu là SKSS, đặc biệt là vấn đề SKSS vị thành niên. Từ đó, SKSS đƣợc định hƣớng chỉ đạo của hầu hết các nƣớc, các chƣơng trình dân số thế giới. ICPD đã thống nhất chƣơng trình hành động về dân số và phát triển trong 20 năm tới và đã cho ra đời một khái niệm mới về SKSS bao gồm tất cả các nội dung liên quan đến tình trạng sức khoẻ, quá trình sinh sản và chất lƣợng cuộc sống. Sau hội nghị, hàng loạt các quốc gia trên thế giới lần lƣợt tổ chức nhiều hội nghị bàn về vấn đề SKSS, SKSS vị thành niên nhƣ: Hội nghị Thƣợng đỉnh phụ nữ quốc tế tại Bắc Kinh + 5 (1995), +10 (2000), +15 (2005), +20 (2010), Hội nghị Quốc tế về dân số và phát triển tại The Hague, Hà Lan (1999), Hội nghị dân số cấp cao uỷ ban kinh tế và xã hội Châu Á Thái Bình Dƣơng (ESCAP) và Quỹ dân số Liên hiệp quốc (UNFNPA) tại băng Cốc.
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề SKSS ở cách tiếp cận khác nhau, đối tƣợng quan tâm khác nhau, điển hình nhƣ công trình nghiên cứu của Tiến sỹ Nasit Sadik - giám đốc điều hành Quỹ Dân số Liên hiệp quốc đã đƣa ra một thông điệp rất tích cực về SKSS: “Giới trẻ ngày nay có ý thức về SKSS hơn và họ biết SKSS rất quan trọng. Họ đều muốn xử xự một cách có trách nhiệm muốn bảo vệ sức khoẻ của chính mình và của cả ngƣời yêu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái5Nguyên http://www.vn/ và họ biết rằng đây là việc nên làm. Phần lớn trong số họ khao khát tìm hiểu, họ muốn có thông tin về tình dục, tình yêu, sức khoẻ tình dục. Họ muốn biết làm thế nào để bản thân họ và ngƣời yêu không bị có thai ngoài ý muốn, tránh các bệnh LTQĐTD”.
Công trình nghiên cứu của Bhakta B. Gubhajiu (2002) đã đề cập đến SKSS vị thành niên ở Châu Á. Brown và đồng sự (2001) điều tra về hành vi tình dục của vị thành niên Châu Á [44]. Các nghiên cứu và quan điểm của các nhà Dân số học trình bày ở Hội nghị Dân số Châu Á Thái Bình Dƣơng lần thứ V tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 2/2002 cho thấy các nhà dân số học chủ yếu đi sâu nghiên cứu khía cạnh nhân khẩu học, dịch vụ KHHGĐ, đồng thời bắt đầu quan tâm đến chính sách SKSS vị thành niên, coi vấn đề SKSS, SKSS vị thành niên là một bộ phận quan trọng hàng đầu của chính sách Dân số và Phát triển.
Nhƣ vậy, hầu hết các nƣớc trên thế giới đều quan tâm đến vấn đề SKSS, coi đây là vấn đề có tính chiến lƣợc quốc gia cần quan tâm và có quan điểm xem GDSKSS là vấn đề lành mạnh. Do đó, đã có nhiều nƣớc đƣa giáo dục SKSS vào Nhà trƣờng theo từng chủ đề tự chọn nhƣ Thuỵ Điển, Đức, Tiệp, Ba Lan. Ở Việt Nam Do ảnh hƣởng nặng nề của tƣ tƣởng phong kiến phƣơng Đông, trong thời gian dài, SKSS bị coi là vấn đề đáng xấu hổ, nên bị né tránh đề cập và nghiên cứu. Điều này đã làm ảnh hƣởng không nhỏ đến dân số, chất lƣợng dân số và chất lƣợng cuộc sống nhân dân.
Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, Đảng và Nhà nƣớc ta đã coi giáo dục dân số là công tác thuộc chiến lƣợc con ngƣời, đặc biệt chú trọng đến bảo vệ, CSSK bà mẹ trẻ em. Do đó, vấn đề SKSS đã thu hút sự quan tâm của nhiều cá nhân, tổ chức, cơ quan, đơn vị. Các công trình nghiên cứu về vấn đề này đƣợc thể hiện dƣới dạng các đề án, đề tài nghiên cứu, luận văn tốt nghiệp, tài liệu. Dự án VIE/1998/P09, VIE/99/P09 với sự tham gia của nhiều giáo sƣ, tiến sỹ, nhà khoa học, nhiều ngành, nhiều cấp đã tập trung nghiên cứu SKSS Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái6Nguyên http://www.vn/ một cách có hệ thống về vấn đề dân số và SKSS.
Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau: Công trình nghiên cứu xây dựng chƣơng trình thử nghiệm giáo dục dân số, SKSS trong trƣờng phổ thông do Viện khoa học Giáo dục thực hiện, đã tập trung chủ yếu vào hai chủ điểm về tâm lý giáo dục và sinh học. Lần đầu tiên trong nhà trƣờng phổ thông ở nƣớc ta HS đƣợc học có hệ thống về “những điều bí ẩn” của chính mình và mối quan hệ với ngƣời khác giới, bằng cách dạy tích hợp vào các môn học từ bậc tiểu học đến trung học với 5 chủ đề: Nhân khẩu học, môi trƣờng, gia đình, giới và dinh dƣỡng, trọng tâm là GDSKSS cho vị thành niên, coi đầu tƣ giải quyết vấn đề về SKSS vị thành niên là một yêu cầu quan trọng trong chiến lƣợc phát triển đất nƣớc. Tuy nhiên, nội dung còn quá thiên về dân số phát triển, chƣa coi SKSS nhƣ một mục tiêu ƣu tiên trong chính sách quốc gia. Công trình nghiên cứu khoa học của Viện khoa học Giáo dục “Điều tra quan niệm về tình yêu, tình dục trong và ngoài hôn nhân, đời sống gia đình, KHHGĐ, giáo dục giới tính.
giai đoạn 1988 - 1991”; Tìm hiểu “Vị thành niên và biện pháp tránh thai” của Viện Nghiên cứu thanh niên năm 1998; Bộ tài liệu huấn luyện về SKSS vị thành niên, SKSS vị thành niên - vấn đề cần quan tâm của Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh năm 2000; cuốn tài liệu “Phương pháp giảng dạy các chủ đề nhạy cảm về SKSS” năm 2000 và bộ tài liệu tự học giành cho giáo viên “Giáo dục SKSS vị thành niên (GDSKSSVTN)” năm 2001, “SKSSVTN - những vấn đề cần quan tâm” giành cho cán bộ đoàn, “Trò chuyện giới tính, tình yêu.” năm 2009, “Tâm lý tuổi hoa” năm 2009 giành cho cán bộ Hội LHPN Việt Nam. Các công trình nghiên cứu khoa học đã nghiên cứu nội dung chƣơng trình giáo dục dân số mới cho HS phổ thông. Nội dung chƣơng trình nhấn mạnh tới SKSS vị thành niên; xây dựng các tài liệu hƣớng dẫn giảng dạy, tài liệu tham khảo và tài liệu trực quan; tập huấn giáo viên. song vẫn chƣa xây dựng đƣợc chƣơng trình giáo dục SKSS phù hợp cho HS các trƣờng THPT.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái7Nguyên http://www.vn/ Nhiều tác giả đã lựa chọn vấn đề GDSKSS làm Luận văn tốt nghiệp đại học, thạc sỹ, tiến sỹ, nhƣ: “Thực trạng và các biện pháp nâng cao nhận thức về SKSS cho học sinh các trường THPT các huyện miền núi Phú Thọ” (Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của tác giả Hoàng Thị Lợi, năm 2000); “Các biện pháp giáo dục SKSS vị thành niên cho HS THPT thành phố Nam Định” (Luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của tác giả Lê Thị Kim Hoa, năm 2003) ; Luận án Tiến sỹ của tác giả Trần Thị Minh Ngọc với đề tài “Nghiên cứu nhận thức của sinh viên đại học sư phạm về SKSS” năm 2006. Nhìn chung, các tác giả đã tập trung nghiên cứu các vấn đề về lý luận sự cần thiết phải quan tâm đến vấn đề giáo dục SKSS, thực trạng nhận thức về SKSS mà tập trung vào dân số, kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ), đời sống tâm, sinh lý tuổi vị thành niên. Có một số đề tài nghiên cứu việc phối hợp các lực lƣợng tham gia giáo dục học sinh, tiêu biểu nhƣ đề tài: “Một số biện pháp tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục trong công tác giáo dục đạo đức cho HS THPT Tây Hồ” của Phạm Minh Tâm, đề tài “Biện pháp phối hợp nhà trường với các lực lượng giáo dục để giáo dục pháp luật cho HS các trường THPT thành phố Bắc Ninh”… đã khẳng định công tác phối hợp giữa Nhà trƣờng với các lực lƣợng giáo dục (LLGD) trong xã hội để giáo dục HS là cần thiết. Các đề tài đã nghiên cứu và đề xuất những biện pháp phối hợp giữa Nhà trƣờng với các LLGD hiệu quả và khả thi.
Tuy nhiên, các công trình, đề tài nghiên cứu về nội dung, biện pháp hình thức tổ chức GDSKSS trong Nhà trƣờng đạt hiệu quả cao, nhất là vấn đề quản lý GDSKSS cho HS trong Nhà trƣờng thì chƣa có tác giả nào nghiên cứu. Chính vì lẽ đó, chúng tôi tập trung nghiên cứu các biện pháp quản lý GDSKSS cho HS THPT trên địa bàn Huyện Yên Sơn, nhằm bổ sung, hoàn thiện hệ thống biện pháp QL GDSKSS cho HS trong Nhà trƣờng phù hợp với điều kiện hiện nay. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái8Nguyên http://www. Một số khái niệm cơ bản 1.
Khái niệm về quản lý Quản lý (QL) là thuộc tính xã hội, là hoạt động có ý thức của con ngƣời nhằm đạt đƣợc những mục tiêu nhất định. Tuỳ theo cách tiếp cận khác nhau, những nhà nghiên cứu về QL có cách diễn đạt định nghĩa khác nhau về QL. Quản lý là một hiện tƣợng XH có từ rất lâu đời, đƣợc nảy sinh trong quá trình lao động chung của loài ngƣời. Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật, các nhà nghiên cứu đã có nhiều cách định nghĩa về khái niệm quản lý dựa trên những cách tiếp cận khác nhau.
Theo từ điển Giáo dục học: Quản lý là hoạt động hay tác động có định hƣớng có chủ đích của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý) đến khách thể quản lý (ngƣời bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức. Theo Từ điển Tiếng Việt: QL là tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị. [41] Theo Haorl Konz: “QL là hoạt động thiết yếu đảm bảo sự nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt đƣợc các mục tiêu của tổ chức”. [15] Trong thời đại công nghiệp các nhà quản lý phƣơng Tây rất chú ý đến khía cạnh hiệu quả và kinh tế của hoạt động quản lý, Frederick.
Taylor (1856 - 1925) nhà thực hành quản lý lao động và nghiên cứu quá trình lao động, cho rằng: Quản lý là biết đƣợc chính xác điều bạn muốn ngƣời khác làm và sau đó hiểu đƣợc rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học quản lý và khoa học giáo dục đƣa ra các định nghĩa khác nhau về quản lý nhƣ sau: Với tác giả Trần Kiểm: “QL là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều ngƣời, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội”. “QL là những tác động của chủ thể QL trong việc huy động phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực trong và ngoài tổ chức một cách tối ƣu, nhằm đạt mục đích của tổ chức cao nhất” [26].