Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GIÁO DỤC PHÒNG, CHỐNG TỆ NẠN XÃ HỘI CHO HỌC SINH CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu đề tài Tệ nạn xã hội là một căn bệnh xã hội tồn tại song song cùng với sự phát triển của xã hội; là một căn bệnh mà mọi quốc gia trên thế giới đều mắc phải. TNXH tác động xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội: làm thiệt hại to lớn về kinh tế, gây mất an ninh trật tự xã hội và sự ổn định chính trị của đất nước; là nguồn phát sinh, phát triển tội phạm.
Đặc biệt, vào những năm cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI, khi nền kinh tế thị trường phát triển, công nghệ thông tin (CNTT) bùng nổ cùng xu thế hội nhập và toàn cầu hóa thì các TNXH như: Ma túy, cờ bạc, mại dâm, trộm cắp, bạo lực,… càng có cơ hội nảy sinh, phát triển và gây tác hại không nhỏ về kinh tế, chính trị, an ninh, sức khỏe, đạo đức, lối sống đối với cộng đồng xã hội. Do vậy, vấn đề phòng, chống TNXH đã trở thành mối quan tâm và là nhiệm vụ quan trọng của mỗi quốc gia; đòi hỏi phải được tiến hành một cách thường xuyên, liên tục, bằng những biện pháp tích cực và triệt để. Các tổ chức thế giới như: Y tế thế giới (WHO), Cảnh sát hình sự quốc tế INTERPOL, Liên Hiệp quốc và các tổ chức quốc tế đã phát động nhiều chiến dịch với quy mô toàn cầu với nhằm chặn đứng và đẩy lùi TNXH ra khỏi đời sống xã hội. Đồng thời, đã tổ chức nhiều hội thảo quốc tế, ban hành nhiều văn bản liên quan đến vấn đề phòng, chống tội phạm và TNXH, trong đó Liên Hiệp quốc đã có 3 công ước về kiểm soát ma túy: Công ước thống nhất về các chất ma tuý năm 1961 (đã sửa đổi theo Nghị định thư 1972 sửa đổi Công ước thống nhất về các chất ma túy năm 1961); Công ước về các chất hướng thần năm 1971 và Công ước về chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma tuý và 9 các chất hướng thần năm 1988 [17].
Với chủ trương nhất quán phát triển kinh tế phải gắn liền với giải quyết các vấn đề xã hội, đảm bảo công bằng, tiến bộ xã hội, Đảng và Nhà nước ta xác định công tác phòng, chống tội phạm và TNXH là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách hàng đầu trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Tính kiên quyết đấu tranh ngăn chặn tội phạm và TNXH của Đảng và Nhà nước được thể hiện thông qua nhiều chủ trương, chính sách và các văn bản pháp luật về giải quyết các vấn đề TNXH và phòng chống tội phạm được ban hành, cụ thể như: Hiến pháp năm 2013 [22], Bộ luật hình sự ( 2015 và sửa đổi 2017) [23], Luật xử lý vi phạm hành chính (2012) [24], Luật phòng, chống ma tuý (2000, sửa đổi bổ sung 2008) [25], Pháp lệnh phòng, chống mại dâm (2003) [26], .Bên cạnh đó, Đảng, Nhà nước đã có nhiều văn bản chỉ đạo về phòng chống tội phạm và TNXH như: Chỉ thị số 48-CT/TW của Bộ Chính trị khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới [4]; Kết luận số 05-KL/TW của Ban Bí thư về việc tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chỉ thị số 48-CT/TW của Bộ Chính trị khóa X [1]; Chiến lược quốc gia phòng, chống và kiểm soát ma túy ở Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 [28]; Chiến lược quốc gia phòng, chống tội phạm giai đoạn 2016-2025 và định hướng đến 2030 [29]; Chỉ thị số 1357/CT-BGDĐT về tăng cường và nâng cao hiệu quả một số hoạt động giáo dục cho HS, sinh viên trong các cơ sở giáo dục, đào tạo [5] và nhiều văn bản chỉ đạo khác [6,7, 8, 9,10,12, 28, 30,31]. Các văn bản pháp luật nêu trên làm cơ sở pháp lý cho việc đấu tranh phòng, chống tội phạm và TNXH của các nhà quản lý nói chung và các nhà QLGD nói riêng. Các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà khoa học pháp lý, các nhà tội phạm học nước ta đã có không ít các đề tài nghiên cứu về phòng, chống TNXH và tội phạm dưới nhiều nội dung, góc độ và khía cạnh khác nhau.
Có thể điểm 10 qua một số công trình tiêu biểu như:“TNXH ở Việt Nam: Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp”của Lê Thế Tiệm và Phạm Thị Phả (1994) [34]; "Ma túy, mại dâm, cờ bạc - tội phạm thời hiện đại" của tập thể tác giả là GS. Nguyễn Xuân Yêm, TS. Phan Đình Khánh, TS. Nguyễn Thị Kim Liên (2003) [38]; "Bạo lực học đường ở Việt Nam hiện nay nhìn từ góc độ tâm lý học" - Nguyễn Thị Thanh Bình, Nguyễn Thị Mai Lan (2013) [3],… Những công trình nghiên cứu này đã đã đề cập khá toàn diện đến vấn đề GDPCTNXH cho các đối tượng khác nhau trong xã hội; đi sâu phân tích thực trạng và nguyên nhân dẫn đến TNXH ở nước ta hiện nay, những tác hại về mọi mặt của các dạng TNXH đối với cộng đồng xã hội.
Các tác giả đã đề xuất các biện pháp phòng, chống TNXH từ cấp vĩ mô đến cấp vi mô, trong đó đặc biệt nhấn mạnh công tác phòng ngừa; vì nếu không làm tốt công tác phòng ngừa, ngăn chặn sớm thì hậu quả sẽ rất khó lường. Chính những nghiên cứu này đã góp phần trang bị kiến thức, giáo dục Nhân dân, đặc biệt là thanh thiếu niên hiểu biết về tác hại nghiêm trọng của TNXH và cách phòng tránh; đồng thời, là cơ sở lý luận giúp các cấp có thẩm quyền đề ra những chủ trương về phòng, chống TNXH. Ngoài ra, chúng tôi tìm hiểu một số luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ khoa học nghiên cứu về phòng, chống TNXH như: - Đề tài cấp nhà nước“Luận cứ khoa học đổi mới chính sách xã hội đảm bảo an ninh xã hội và khắc phục các tệ nạn xã hội” mã số KX 04.14 của Tổng cục Cảnh sát, Bộ Nội vụ (1992-1995) [33]. Đề tài này đã tập trung đi sâu phân tích nguyên nhân, điều kiện, đặc biệt là những nguyên nhân, điều kiện về các chính sách xã hội làm phát sinh, phát triển và tồn tại của các TNXH, từ đó đề ra những giải pháp, kiến nghị đổi mới, ban hành một số chính sách xã hội nhằm khắc phục các TNXH.
- Hai đề tài nghiên cứu Luận văn Thạc sĩ QLGD:“Biện pháp quản lý của 11 Hiệu trưởng nhằm ngăn chặn TNXH xâm nhập vào trường THCS ở thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh”- (2014), tác giả Hoàng Lê Yến [39] và“Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục phòng ngừa tệ nạn xã hội cho học sinh các trường THPT thành phố PleiKu, tỉnh Gia Lai”- (2015), tác giả Nguyễn Tuyết Phương [20] đã trình bày cơ sở lý luận, vai trò của nhà trường trong phòng chống TNXH; thực trạng về TNXH, về quản lý các hoạt động GDPCTNXH cho HS bậc phổ thông trên cơ sở điều kiện thực tế, mỗi nơi có tính đặc thù của từng địa phương, từ đó đề xuất biện pháp quản lý phòng ngừa TNXH cho HS, làm cơ sở vững chắc cho những nghiên cứu về sau. Luận văn của chúng tôi trên cơ sở kế thừa, tham khảo những ý kiến, đánh giá của các nhà nghiên cứu, cố gắng tập trung khảo sát, phân tích, chỉ ra được những bất cập trong công tác GDPCTNXH và hoạt động quản lý GDPCTNXH cho HS các trường THCS ở huyện Tuy Phước hiện nay, tìm ra nguyên nhân của thực trạng này. Đó là: sự quan tâm chưa đúng mức của các cấp lãnh đạo, quản lý thể hiện qua chỉ đạo chưa sâu sát việc phối kết hợp giữa nhà trường- gia đình- xã hội trong GDPCTNXH cho HS trường THCS. Từ đó, chúng tôi đề xuất các biện pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả quản lý công tác GDPCTNXH cho học sinh các trường THCS trên địa bàn huyện Tuy Phước để đáp ứng yêu cầu phát triển GD& ĐT của huyện Tuy Phước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của huyện nhà.
Kết quả nghiên cứu thực tiễn của luận văn sẽ là cơ sở khoa học, có thể làm tài liệu tham khảo bổ ích cho chủ thể quản lý ở các trường THCS trên địa bàn huyện Tuy Phước và tỉnh Bình Định. Những khái niệm cơ bản 1. Quản lý Khái niệm "quản lý" được định nghĩa khác nhau dựa trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau Hiện có hơn 100 khái niệm về quản lý, vì mọi sự vật 12 hiện tượng luôn vận động và phát triển không ngừng. Theo Fredrich Winslow Taylor (1856 - 1915): "Quản lý là biết được chính xác điều người khác muốn làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất" [19, tr.
327] Tác giả Trần Kiểm quan niệm: "Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất" [15, tr. Tác giả Trần Quốc Thành lại cho rằng: "Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan" [27, tr. Tuy có nhiều cách tiếp cận và diễn đạt khác nhau, song các khái niệm “quản lý” đều có chung những điểm chủ yếu sau đây: Quản lý là quá trình tác động của chủ thể QL đến đối tượng QL nhằm đạt được các mục tiêu QL do tổ chức đề ra; QL được coi là tập hợp những tác động có mục đích đến những tập thể trong xã hội; QL nhằm bảo toàn hệ thống, làm cho hệ thống vận động ổn định và phát triển, tuân theo quy luật xã hội, thực hiện chức năng đặc thù. Chức năng QL Chức năng QL Chủ thể QL Khách thể QL Mục tiêu QL Phương pháp QL Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ các yếu tố trong quản lý giáo dục [15, tr18] 13 Sơ đồ 1.1 ở trên thể hiện hoạt động QL tồn tại với 3 yếu tố cơ bản đó là “Chủ thể quản lý, khách thể quản lý, mục tiêu quản lý".
Các yếu tố này có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau và cùng nằm trong môi trường quản lý. Giáo dục, quản lý giáo dục 1.