Tổng quan nghiên cứu

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục với đề tài "Quản lí giáo dục kĩ năng sống trong các trường Tiểu học ở Hà Nội" do tác giả Cao Chí Hiếu thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội vào năm 2018, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Hoa. Trong bối cảnh đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục phổ thông theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học đã trở thành nhiệm vụ trọng tâm nhằm hiện thực hóa 4 trụ cột giáo dục của thế kỷ 21 do UNESCO đề xướng: học để biết, học để làm, học để tự khẳng định và học để cùng chung sống. Dù vậy, thực tế triển khai tại nhiều cơ sở giáo dục vẫn mang tính hình thức, hoạt động lồng ghép chưa đạt chiều sâu và thiếu các quy chế quản lý đồng bộ.

Nghiên cứu được tiến hành trên địa bàn 6 quận của thành phố Hà Nội gồm Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Ba Đình, Đống Đa, Hoàng Mai và Long Biên. Mục tiêu nghiên cứu tập trung làm rõ hệ thống cơ sở lý luận về quản lý giáo dục kỹ năng sống, khảo sát toàn diện thực trạng công tác này tại 6 trường tiểu học đại diện với quy mô 222 khách thể, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp quản trị mang tính khoa học và thực tiễn.

Ý nghĩa của công trình thể hiện ở việc lượng hóa chính xác các khâu quản lý học đường, chỉ ra điểm trung bình tần suất lập kế hoạch chỉ đạt 1,70 điểm và công tác kiểm tra đánh giá đạt 1,79 điểm trên thang đo 3,00 điểm. Kết quả nghiên cứu đóng góp cơ sở dữ liệu thực chứng giá trị giúp các nhà quản lý nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh từ 6 đến 11 tuổi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Khung lý thuyết của đề tài được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa lý thuyết 4 trụ cột giáo dục của UNESCO, quan điểm phát triển nhân cách toàn diện của tâm lý học lứa tuổi và lý thuyết chức năng quản lý tổ chức của Chester Barnard. Bốn khái niệm công cụ nền tảng được định nghĩa chuẩn xác gồm: Kỹ năng sống (khả năng làm chủ bản thân, thích ứng tích cực và ứng phó hiệu quả trước các tình huống thực tiễn theo chuẩn của WHO và UNICEF); Giáo dục kỹ năng sống (quá trình sư phạm có mục đích nhằm hình thành hành vi lành mạnh và loại bỏ thói quen tiêu cực); Quản lý nhà trường (quá trình điều hành, huy động nguồn lực thực hiện mục tiêu giáo dục); và Quản lý giáo dục kỹ năng sống (hệ thống tác động sư phạm hướng đích của chủ thể quản lý đến tập thể sư phạm và học sinh).

Mô hình quản lý giáo dục kỹ năng sống được vận hành qua chu trình 4 chức năng quản trị cốt lõi: Lập kế hoạch (xác định mục tiêu, nội dung, tiến độ và dự toán ngân sách); Tổ chức (kiện toàn ban chỉ đạo, phân công nhiệm vụ); Chỉ đạo thực hiện (bồi dưỡng giáo viên, điều hành dạy học tích hợp và hoạt động ngoài giờ lên lớp); Kiểm tra và đánh giá (xây dựng tiêu chí, giám sát định kỳ). Mô hình này bao quát 3 nhóm kỹ năng trọng tâm: nhóm nhận biết và sống với chính mình, nhóm phân biệt và sống với người khác, cùng nhóm kỹ năng ra quyết định.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát thực chứng với tổng dung lượng mẫu là 222 khách thể, bao gồm 18 cán bộ quản lý (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng) cùng 204 giáo viên và phụ huynh học sinh. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên tại 6 trường tiểu học đại diện cho các khu vực nội thành, cận nội thành và ven đô của thành phố Hà Nội: Trường Tiểu học Trần Quốc Toản (Hoàn Kiếm), Lê Ngọc Hân (Hai Bà Trưng), Vạn Phúc (Ba Đình), Khương Thượng (Đống Đa), Tân Mai (Hoàng Mai) và Ngọc Thụy (Long Biên). Việc lựa chọn 6 trường này đảm bảo tính khách quan và đại diện cao về điều kiện cơ sở vật chất, mật độ học sinh và chất lượng giảng dạy.

Nguồn dữ liệu được thu thập qua 2 bộ phiếu hỏi trưng cầu ý kiến chuẩn hóa kết hợp phỏng vấn sâu cá nhân, dự giờ quan sát hoạt động dạy học chính khóa và ngoại khóa trong năm học 2017 - 2018. Nghiên cứu lựa chọn phương pháp thống kê toán học để xử lý dữ liệu vì phương pháp này cho phép lượng hóa chính xác các chỉ báo hành vi. Dữ liệu được tính toán tỷ số phần trăm, điểm trung bình và phân hạng thứ bậc theo thang đo Likert 3 mức độ (từ 1,00 đến 1,68 điểm: chưa tốt/chưa thường xuyên; từ 1,69 đến 2,34 điểm: khá tốt/khá thường xuyên; từ 2,35 đến 3,00 điểm: tốt/thường xuyên), giúp kết quả phân tích đạt độ tin cậy cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về mức độ nhận thức: Có 81,1% cán bộ quản lý và giáo viên (180/222 người) đánh giá hoạt động giáo dục kỹ năng sống là rất quan trọng và 60,4% khẳng định hoạt động này không thể thiếu trong trường tiểu học. Tuy nhiên, vẫn còn 66,2% khách thể phân vân về việc kỹ năng sống có vai trò quyết định chất lượng giáo dục nhà trường, phản ánh tư duy xem nhẹ các hoạt động ngoài kiến thức văn hóa.

Thứ hai, về nội dung thực hiện: Nhóm kỹ năng nhận thức đạt mức độ thực hiện cao nhất với điểm trung bình 2,60 điểm (tần suất 2,56 điểm), xếp thứ hai là nhóm kỹ năng hợp tác với 2,55 điểm (tần suất 2,50 điểm). Trái lại, nhóm kỹ năng phòng chống bạo lực và bảo vệ bản thân xếp cuối cùng ở mức chưa tốt với điểm trung bình chỉ đạt 1,42 điểm và tần suất 1,73 điểm.

Thứ ba, về hình thức và lực lượng tham gia: Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp đạt kết quả tốt nhất với điểm trung bình 2,61 điểm (tần suất 2,57 điểm), tiếp theo là hoạt động Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh đạt 2,54 điểm. Tổng phụ trách Đội là lực lượng hoạt động hiệu quả nhất với 68,9% đánh giá tốt (điểm trung bình 2,65 điểm), cao hơn đội ngũ giáo viên với 59,5% (2,55 điểm) và hiệu trưởng với 45,5% (2,40 điểm).

Thứ tư, về các khâu quản lý và nguồn lực: Khâu tổ chức thực hiện đạt điểm cao nhất với 2,15 điểm (tần suất 2,14 điểm), kiểm tra đánh giá đạt 1,79 điểm, trong khi khâu lập kế hoạch bị đánh giá thấp nhất ở mức chưa tốt với điểm trung bình 1,68 điểm (tần suất 1,70 điểm). Nguồn lực kinh phí dành cho giáo dục kỹ năng sống bị đánh giá yếu kém nhất với 35,6% mức chưa tốt và điểm trung bình chỉ đạt 1,64 điểm.

Thảo luận kết quả

Sự tương phản giữa tỷ lệ 81,1% đánh giá rất quan trọng và điểm số khâu lập kế hoạch chỉ đạt 1,68 điểm cho thấy khoảng cách lớn giữa nhận thức lý thuyết và thực tiễn quản trị. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ áp lực chương trình văn hóa, sĩ số lớp học quá đông tại các quận nội thành (trung bình 45 đến 55 học sinh một lớp) và sự thiếu vắng danh mục ngân sách chuyên biệt cho kỹ năng sống.

Dữ liệu thực nghiệm của luận văn có thể được trình bày trực quan thông qua biểu đồ cột kép so sánh tần suất thực hiện và mức độ đạt được của 6 nhóm kỹ năng, cùng bảng ma trận đối sánh 7 hình thức giáo dục. Các biểu đồ này sẽ làm nổi bật độ lệch điểm lên tới 1,18 điểm giữa nhóm kỹ năng nhận thức (2,60 điểm) và nhóm kỹ năng bảo vệ bản thân (1,42 điểm). So với các nghiên cứu giáo dục cùng thời kỳ tại các tỉnh lân cận, kết quả nghiên cứu này tái khẳng định tính quy luật: nếu Ban giám hiệu buông lỏng khâu lập kế hoạch và thiếu quy chế phối hợp, giáo dục kỹ năng sống sẽ dễ rơi vào hình thức phong trào bề nổi, thiếu tính bền vững.

Đề xuất và khuyến nghị

Một là, nâng cao năng lực quản lý lập kế hoạch cho Ban giám hiệu: Hiệu trưởng 100% các trường tiểu học cần trực tiếp phê duyệt và chỉ đạo xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng sống chi tiết theo tuần, tháng và năm học ngay từ tháng 8 hàng năm. Mục tiêu nâng điểm trung bình khâu lập kế hoạch từ 1,68 điểm lên trên mức 2,50 điểm trong giai đoạn 2018 - 2020. Chủ thể thực hiện: Hiệu trưởng phối hợp với Phòng Giáo dục và Đào tạo 6 quận.

Hai là, tái cấu trúc nội dung giáo dục theo hướng ưu tiên kỹ năng tự bảo vệ: Ban Giám hiệu chỉ đạo các tổ chuyên môn và Tổng phụ trách Đội xây dựng chuyên đề thực hành về phòng chống xâm hại, tai nạn thương tích và bạo lực học đường, bố trí tối thiểu 2 tiết mỗi tháng trong chương trình ngoại khóa. Mục tiêu nâng mức độ đạt được của nhóm kỹ năng này từ 1,42 điểm lên trên 2,30 điểm trong vòng 12 tháng. Chủ thể thực hiện: Tổng phụ trách Đội, giáo viên chủ nhiệm và chuyên gia kỹ năng sống.

Ba là, hoàn thiện quy chế phối hợp và hệ thống kiểm tra đánh giá: Ban hành văn bản hướng dẫn và bộ tiêu chí đánh giá kỹ năng sống rõ ràng theo định hướng Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT, tổ chức dự giờ kiểm tra chéo 100% giáo viên về việc tích hợp kỹ năng sống trong các môn Tiếng Việt, Đạo đức, Tự nhiên và Xã hội. Mục tiêu nâng điểm công tác kiểm tra từ 1,79 điểm lên trên 2,40 điểm theo từng học kỳ. Chủ thể thực hiện: Ban kiểm tra nội bộ và Phó Hiệu trưởng chuyên môn.

Bốn là, đẩy mạnh đa dạng hóa nguồn lực và cơ chế xã hội hóa: Nhà trường chủ động trích từ 5% đến 10% kinh phí hoạt động thường xuyên kết hợp vận động quỹ từ Ban đại diện cha mẹ học sinh để mua sắm trang thiết bị, đồng thời ký kết liên kết với các trung tâm kỹ năng sống uy tín. Mục tiêu nâng điểm đánh giá nguồn kinh phí từ 1,64 điểm lên trên 2,20 điểm trước năm 2020. Chủ thể thực hiện: Hiệu trưởng, Ban đại diện cha mẹ học sinh và các tổ chức đoàn thể địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cán bộ quản lý trường tiểu học (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng): Tiếp cận cẩm nang quy trình 4 bước quản lý chuẩn mực, giúp khắc phục tình trạng lúng túng trong khâu lập kế hoạch, phân bổ ngân sách và thiết lập quy chế phối hợp lực lượng giáo dục tại cơ sở.

Giáo viên tiểu học và Tổng phụ trách Đội: Tham khảo hệ thống phương pháp sư phạm tích hợp kỹ năng sống vào bài giảng chính khóa và quy trình thiết kế hoạt động ngoài giờ lên lớp, giúp nâng cao tỷ lệ thực hành giải quyết tình huống cho học sinh.

Chuyên viên Phòng và Sở Giáo dục và Đào tạo: Khai thác bộ số liệu thực chứng từ 222 mẫu khảo sát tại 6 quận của Hà Nội để hoạch định chính sách, xây dựng văn bản chỉ đạo chuyên môn và hướng dẫn nhiệm vụ năm học đồng bộ.

Học viên cao học và nhà nghiên cứu giáo dục: Sử dụng luận văn như một công trình tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận nghiên cứu quản lý giáo dục, bộ công cụ khảo sát định lượng gồm 2 bộ phiếu hỏi và mô hình toán học ứng dụng trong đo lường chất lượng giáo dục phổ thông.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Vì sao công tác lập kế hoạch giáo dục kỹ năng sống tại các trường tiểu học ở Hà Nội lại đạt điểm số thấp nhất? Trả lời: Theo số liệu khảo sát, khâu lập kế hoạch chỉ đạt 1,68 điểm do các nhà trường chưa xây dựng kế hoạch chi tiết theo tuần, tháng mà chỉ lồng ghép chung chung vào kế hoạch năm học. Bên cạnh đó, có tới 64,4% cơ sở giáo dục gặp khó khăn trong việc dự toán và phân bổ kinh phí chuyên biệt cho hoạt động này.

Câu hỏi 2: Lực lượng nào giữ vai trò nòng cốt trong việc triển khai giáo dục kỹ năng sống cho học sinh tiểu học? Trả lời: Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng Tổng phụ trách Đội là lực lượng hoạt động hiệu quả nhất với điểm trung bình 2,65 điểm (68,9% xếp loại tốt), đóng vai trò hạt nhân kết nối các hoạt động phong trào, trong khi đội ngũ giáo viên đứng lớp đạt 2,55 điểm và hiệu trưởng đạt 2,40 điểm.

Câu hỏi 3: Nhóm kỹ năng sống nào của học sinh tiểu học hiện nay đang đạt kết quả thấp nhất? Trả lời: Nhóm kỹ năng phòng chống bạo lực và bảo vệ bản thân có mức độ đạt được thấp nhất với 1,42 điểm và tần suất 1,73 điểm. Nguyên nhân do chương trình chính khóa thiếu thời lượng thực hành các tình huống phòng chống xâm hại, kỹ năng thoát hiểm và tự vệ trước các nguy cơ tai nạn thương tích.

Câu hỏi 4: Hình thức giáo dục kỹ năng sống nào mang lại hiệu quả cao nhất trong thực tế nhà trường? Trả lời: Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp mang lại hiệu quả cao nhất với điểm trung bình đạt 2,61 điểm, vượt trội so với hình thức tích hợp trong môn học chính khóa đạt 2,26 điểm. Môi trường trải nghiệm thực tế giúp 100% học sinh dễ dàng chuyển hóa nhận thức thành hành vi tích cực.

Câu hỏi 5: Cần làm gì để tháo gỡ điểm nghẽn về kinh phí và cơ sở vật chất cho giáo dục kỹ năng sống? Trả lời: Nhà trường cần chủ động huy động nguồn lực xã hội hóa, trích từ 5% đến 10% ngân sách hoạt động thường xuyên và phối hợp chặt chẽ với 100% Ban đại diện cha mẹ học sinh để đầu tư thiết bị, nhằm cải thiện điểm trung bình nguồn kinh phí vốn chỉ đạt 1,64 điểm.

Kết luận

  • Quản lý giáo dục kỹ năng sống là mắt xích then chốt quyết định chất lượng đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục tiểu học trong thế kỷ 21.
  • Luận văn đã lượng hóa toàn diện thực trạng tại 6 trường tiểu học với 222 khách thể, chỉ rõ điểm nghẽn lớn nhất nằm ở khâu lập kế hoạch (1,68 điểm) và nguồn kinh phí (1,64 điểm).
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp quản trị đồng bộ được đề xuất có tính khả thi cao, gắn liền với chu trình quản lý và bám sát Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT.
  • Đóng góp khoa học nổi bật của đề tài là hoàn thiện lý luận quản lý giáo dục kỹ năng sống cấp tiểu học và cung cấp bộ công cụ khảo sát định lượng chuẩn hóa.
  • Lộ trình áp dụng khuyến nghị được phân kỳ trong giai đoạn 2018 - 2020 nhằm nâng điểm đánh giá tổng thể hoạt động quản lý từ 1,87 điểm lên trên 2,50 điểm.
  • Các nhà quản lý, cán bộ giáo dục và nhà nghiên cứu có thể ứng dụng ngay hệ thống giải pháp và bộ tiêu chí của luận văn để nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng sống tại cơ sở.