Chương 1: Cơ sở lí luận của quản lí giáo dục kỹ năng sống trong các trường Tiểu học ở Hà Nội. Chương 2: Thực tr ng công tác quản lí giáo dục kỹ năng sống trong các trường Tiểu học ở Hà Nội. Chương 3: Biện pháp quản lí giáo dục kỹ năng sống trong các trường Tiểu học ở Hà Nội. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÍ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG TRONG CÁC TRƢỜNG TIỂU HỌC 1.
Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Kỹ năng sống Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về kĩ năng sống: * Định nghĩa của các cơ quan, tổ chức trên thế giới: Tổ chức Y tế thế giới (WHO): “Kĩ năng sống là khả năng để có hành vi thích ứng và tích cực, giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày, là khả năng của một cá nhân để duy trì một trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người khác, với nền văn hóa và môi trường xung quanh” [dẫn theo 2, tr. Theo tổ chức UNICEF: “Kĩ năng sống là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới của m i cá nhân Muốn vậy, cá nhân cần có sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kĩ năng Theo quan niệm này, KNS là khả năng phân tích tình huống và ứng xử, khả năng tìm kiếm cách ph ng tránh và ứng xử với các tình huống” [dẫn theo 2, tr. Theo tổ chức UNESCO quan niệm: KNS gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là: học để biết, học làm người, học để sống với người khác, học để làm.
“Kĩ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia thuận lợi vào cuộc sống hàng ngày Đó là những kĩ năng như: kĩ năng ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức; kĩ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm… Đó là khả năng cá nhân làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực, giúp cá nhân đó có thể kiểm soát, quản lí có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày” [dẫn theo 1, tr. * Định nghĩa của các nhà khoa học: - Tác giả Nguyễn Thanh Bình: “Kĩ năng sống là năng lực, khả năng tâm lý - xã hội của con người có thể ứng phó với những thách thức trong cuộc sống, giải quyết các tình huống một cách tích cực và giao tiếp có hiệu quả” [3, tr. Theo Phan Thanh Hà: “Kĩ năng sống là năng lực biểu hiện những giá trị sống trong hoạt động và giao tiếp hàng ngày KNS giúp người ta học tập, làm việc hiệu quả hơn, giao tiếp với mọi người thân thiện, vui vẻ, hợp tác, thành công hơn; biết tự điều chỉnh bản thân làm việc tốt, tránh việc xấu” [5, tr. 8 Từ những góc nhìn và định nghĩa như trên, có thể thấy: - Kĩ năng sống là kĩ năng, năng lực của mỗi cá nhân được hình thành thông qua những trải nghiệm của cá nhân đó trong suốt quá trình tồn t i và phát triển.
- Kĩ năng sống là khả năng của mỗi cá nhân thích nghi tích cực khi tương tác với người khác và với môi trường của mình. Tuy nhiên, kĩ năng nói chung và kĩ năng sống nói riêng không hình thành và tồn t i một cách độc lập mà trong mối tương tác mật thiết và có sự cân bằng với kiến thức và thái độ. - Kĩ năng sống là kĩ năng, năng lực của mỗi cá nhân được hình thành thông qua những trải nghiệm của cá nhân đó trong suốt quá trình tồn t i và phát triển, nó giúp cho con người có cách ứng xử tích cực và có hiệu quả đáp ứng mọi biến đổi của đời sống xã hội, sống m nh khỏe hơn, an toàn hơn. Tóm l i, kĩ năng sống giúp cho con người có thể làm chủ bản thân, có khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống.
Kĩ năng sống bao gồm cả hành vi vận động của cơ thể và tư duy trong não bộ của con người. Kĩ năng sống có thể hình thành một cách tự nhiên, thông qua giáo dục hoặc tự rèn luyện của con người. Giáo dục kỹ năng sống GDKNS là “quá trình hình thành, rèn luyện và phát triển cho các em khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với những người xung quanh trong cộng đồng xã hội và ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống ” GDKNS có những tính chất cơ bản sau: GDKNS là quá trình giáo dục có mục đích, có kế ho ch và biện pháp cụ thể. Đây là một quá trình lâu dài, phức t p, đòi hỏi nhiều lực lượng tham gia.
GDKNS phải gắn liền với ho t động giáo dục và sinh ho t của người học. Người được hưởng GDKNS phải chủ động, tích cực và đòi hỏi tính tự giác rất cao. Quá trình GDKNS có tính năng động cao, mục đích cuối cùng là hình thành hành vi lành m nh, GDKNS không quá coi trọng vấn đề tri thức, nhưng l i rất chú trọng kĩ năng cụ thể. Quản lí giáo dục kỹ năng sống 1.3 1 Quản lí 1) Khái niệm quản lí Quản lí trong các tổ chức, hệ thống nói chung là hành động đưa cá nhân trong tổ chức làm việc cùng nhau để thực hiện, hoàn thành mục tiêu chung.
Nó là tổ hợp các tác động chuyên biệt, có chủ đích của chủ thể quản lí lên khách thể quản lí và 9 đối tượng quản lí nhằm phát huy tiềm năng của các yếu tố, các mối quan hệ chức năng, sử dụng hiệu quả nguồn lực và cơ hội của tổ chức, hệ thống để trên cơ sở đó đảm bảo cho tổ chức, hệ thống ho t động tốt đ t được các mục tiêu đề ra với chất lượng và hiệu quả tối ưu trong điều kiện biến động của môi trường. 2) Chức n n của quản lí Quản lí có chức năng xác định khối lượng công việc cơ bản và trình tự các công việc của quá trình quản lý, mỗi chức năng có nhiều nhiệm vụ cụ thể, là các quá trình liên tục của của các bước công việc tất yếu phải thực hiện. Chức năng của quản lí là một hệ thống nhất các ho t động tất yếu của chủ thể quản lý nẩy sinh từ sự phân công chuyên môn hoá trong ho t động quản lý nhằm thực hiện mục tiêu. Có nhiều quan niệm khác nhau về chức năng quản lý, nhưng cơ bản thì quản lý gồm 4 chức năng: Lập kế ho ch, tổ chức, lãnh đ o - chỉ đ o, kiểm tra - đánh giá.
- Chức năng lập kế hoạch: Trong tất cả các chức năng quản lý, chức năng lập kế ho ch đóng vai trò là chức năng đầu tiên, chức năng cơ bản để hoàn thành các chức năng quản lý khác, đây được coi là chức năng h t nhân, quan trọng của quá trình quản lý. Việc lập kế ho ch là phải đặt ra mục tiêu, bước đi và các biện pháp cụ thể để đ t mục tiêu. Muốn có được bản kế ho ch phù hợp, khoa học và mang tính khả thi phải thực hiện tốt chức năng dự báo. Khi dự báo phải biết rõ thực lực của mình, đó là việc xác định nhu cầu và các mục tiêu mà nhà trường cần đ t tới trên cơ cở phân tích sư ph m và căn cứ hướng dẫn của cấp trên về chỉ thị và nhiệm vụ năm học mới để suy ra định hướng cơ bản trong năm học tiếp theo của nhà trường, lựa chọn những hướng ưu tiên, dự kiến những mục tiêu cần đ t được và các tiêu chuẩn đánh giá.
Làm được như vậy, bản kế ho ch đề ra mới có thể áp dụng được vào thực tiễn quản lý và đem l i kết quả khả thi. - Chức năng tổ chức: Khi bàn đến vấn đề này, Barmard cho rằng: “chức năng quản lý như là hệ thống các ho t động hay tác động có ý thức của hai hay nhiều người”. Tổ chức giữ vai trò to lớn trong quản lý vì: + Tổ chức giúp cho các chức năng khác của ho t động quản lý thực hiện có hiệu quả. + Tổ chức dựa trên khối lượng công việc quản lý mà xác định biên chế, sắp xếp con người.
10 + Tổ chức t o điều kiện cho ho t động tự giác sáng t o của các thành viên trong tổ chức, t o nên sự phối hợp, ăn khớp nhịp nhàng trong cơ quan quản lý và đối tượng quản lý. Qua đó, dễ dàng trong việc kiểm tra, đánh giá các ho t động quản lý. Nói tóm l i, thực chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ, liên hệ giữa con người với con người, giữa các bộ phận riêng rẽ thành một hệ thống các ho t động nhịp nhàng như một thể thống nhất. Tổ chức tốt sẽ khơi nguồn cho những tiềm năng, cho các động lực khác, tổ chức không tốt sẽ triệt tiêu động lực và giảm sút hiệu quả quản lý.
Với quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, điều quan trọng nhất của công tác tổ chức là phải xác định rõ vai trò, vị trí của mỗi cá nhân, mỗi thành viên, mỗi bộ phận, đảm bảo mối quan hệ liên kết giữa cá nhân, các thành viên, các bộ phận t o nên sự thống nhất và đồng bộ - yếu tố đảm bảo thành công trong quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường. - Chức năng lãnh đạo: Là quá trình tác động ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến hành vi, thái độ con người (khách thể quản lý) nhằm đ t mục tiêu đề ra. Quá trình đó thể hiện ở sự tác động qua l i giữa chủ thể quản lý và mọi thành viên trong tổ chức nhằm góp phần hiện thực hóa các mục tiêu đề ra. Chức năng này có tính chất tác nghiệp điều chỉnh, điều hành ho t động của hệ thống nhằm thực hiện đúng kế ho ch đã định, để biến mục tiêu trong dự kiến thành kết quả hiện thực.
Việc điều khiển bộ máy thực chất là điều khiển con người, điều khiển phải căn cứ vào kế ho ch. Để điều khiển được con người thì phải có quyền lực, phải có sự phân công r ch ròi (danh có chính, ngôn mới thuận), không những vậy phải có các công cụ khác (lợi ích về vật chất và tinh thần).