phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp Chƣơng 2 : Thực trạng công tác quản lý đội ngũ giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp ở Trường Trung học phổ thông Việt Bắc, Lạng Sơn. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên theo Chuẩn nghề nghiệp ở Trường Trung học phổ thông Việt Bắc, Lạng Sơn 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu của đề tài Trong giáo dục, giáo viên luôn luôn đóng một vai trò chủ đạo, then chốt, là nhân tố quyết định đến chất lượng và hiệu quả của quá trình giáo dục. Để có đội ngũ giáo viên đủ mạnh, đáp ứng được nhu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, vấn đề quản lý, sử dụng và bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên là hết sức quan trọng và cần thiết.
Việc xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên, trong đó có đội ngũ giáo viên THPT đã có nhiều đề tài nghiên cứu, trong đó có các đề tài luận văn thạc sĩ khoa học tập trung nêu các các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên như: “Giải pháp bồi dưỡng chuẩn hóa giáo viên mẫu giáo các tỉnh Duyên Hải miền Trung” của Nguyễn Huy Thông - 1999; Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên THPT Hàm Long, của Nguyễn Văn Phương, 2010; Biện pháp quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên THPT tỉnh Lạng Sơn đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, của Nguyễn Thị Lương Hằng, 2008; Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên THPT Quận 9, TP Hồ Chí Minh, của Nguyễn Hồng Anh, 2010;. Các đề tài nêu trên đã tiếp cận nghiên cứu về vấn đề xây dựng, bồi dưỡng, quy hoạch và quản lý phát triển ĐNGV. Đã từng bước hoàn thiện cơ sở lý luận về xây dựng đồng thời đề xuất các biện pháp trong việc quản lý ĐNGV, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của địa phương, điều kiện nhà trường để từng bước củng cố, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ này trở thành lực lượng chủ yếu, nhằm nâng cao hiệu lực trong giáo dục, quyết định sự phát triển giáo dục. Chuẩn nghề nghiệp giáo viên THPT vừa mới được ban hành từ tháng 10/2009 nên hầu như chưa có đề tài nghiên cứu vận dụng Chuẩn nghề nghiệp 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vào quản lý đội ngũ giáo viên, đặc biệt là đội ngũ giáo viên THPT Trường THPT Việt Bắc, Lạng Sơn.
Tiếp thu, kế thừa những thành tựu đã có, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Quản lý đội ngũ giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp ở trường trung học phổ thông Việt Bắc, tỉnh Lạng Sơn”. Đề tài này tiếp tục nghiên cứu cơ sở lý luận, đánh giá được thực trạng đội ngũ giáo viên hiện nay của nhà trường mà tác giả đang công tác, đưa ra các biện pháp thiết thực, khả thi nhằm quản lý đội ngũ giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp quy định tại Thông tư 30/2009/TT-BGDĐT ngày 22/10/2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, chắc chắn đó là những động lực quyết định thực hiện thắng lợi các mục tiêu của nhà trường, góp phần tích cực vào sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh Lạng Sơn. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về quản lý Khi xã hội loài người xuất hiện, một loạt các quan hệ như quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội và cả quan hệ giữa con người với chính bản thân mình xuất hiện theo.
Điều này đã làm nảy sinh nhu cầu về quản lý. Ngày nay quản lý đã trở thành một nhân tố của sự phát triển xã hội. Yếu tố quản lý tham gia vào mọi lĩnh vực trên nhiều cấp độ và liên quan đến mọi người. Theo từ điển Tiếng Việt: thuật ngữ “Quản lý” được xác định là: “Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định” [40, tr 329].
Theo quan điểm kinh tế, F.Taylor (1856-1915) cho rằng: “Quản lý là cải tạo mối quan hệ giữa người với người, giữa người với máy móc, và quản lý là nghệ thuật rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất” [36, tr. Với quan điểm chính trị xã hội, theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế… bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng”. Theo quan điểm Hệ thống thì “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đã đặt ra trong điều kiện biến đổi của môi trường. Theo tập thể tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Quang Kính và Phạm Đỗ Nhật Tiến thì định nghĩa kinh điển và đơn giản nhất là: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [5, tr.
Như vậy, theo quan điểm kinh tế, quản lý luôn chú ý đến vận hành, hiệu quả kinh tế, phát triển sản xuất và sự tác động qua lại giữa các lực lượng sản xuất. Theo quan điểm chính trị xã hội thì quản lý nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng. Theo quan điểm hệ thống và các tác giả đã nêu trên, quản lý chú ý đến mục đích của chủ thể quản lý và mục tiêu của tổ chức. Chúng ta có thể thấy được bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức và điều khiển) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý bằng các chức năng quản lý nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu của tổ chức (đơn vị) đã đề ra.
Các yếu tố của quản lý là chủ thể quản lý, khách thể quản lý và mối liên hệ giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý bằng các chức năng quản lý. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chức năng quản lý là những nội dung, những phương thức hoạt động cơ bản, nhờ đó chủ thể tác động lên đối tượng quản lý trong quá trình quản lý nhằm thực hiện mục tiêu quản lý. Có 4 chức năng cơ bản của quản lý, đó là: + Kế hoạch hóa + Tổ chức + Chỉ đạo thực hiện + Kiểm tra, đánh giá. Và một chức năng trung tâm : thông tin quản lý.
Quá trình quản lý là thực hiện các chức năng quản lý, các chức năng này có mối quan hệ qua lại hợp thành chu trình quản lý, được mô tả bởi sơ đồ sau: Sơ đồ 1.1: Các chức năng và chu trình quản lý Kế hoạch hóa Kiểm tra, Thông tin đánh giá quản lý Tổ chức Chỉ đạo - Lập kế hoạch: Là quá trình thiết lập các mục tiêu, hệ thống các hoạt động và điều kiện đảm bảo thực hiện các mục tiêu. Kế hoạch là nền tảng của quản lý. - Tổ chức: Là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, phân bổ quyền hành và các nguồn lực cho các thành viên trong tổ chức. - Chỉ đạo: Là điều hành, chỉ dẫn, đôn đốc, giám sát, điều khiển, điều chỉnh đối tượng quản lý hoạt động đúng kế hoạch.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Kiểm tra, đánh giá: Là hoạt động của người quản lý kiểm tra và đánh giá các hoạt động của đơn vị về việc thực hiện mục tiêu đặt ra. Khái niệm quản lý giáo dục và quản lý nhà trƣờng Theo tác giả Nguyễn Minh Đường: Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan “Là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [24]. Ngày nay với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người, tuy nhiên trọng tâm vẫn là giáo dục thế hệ trẻ cho nên quản lý giáo dục được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân. Ta có thể hiểu: Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối giáo dục và nguyên lý của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất.
Giáo dục là một bộ phận của xã hội, nên QLGD là một loại hình quản lý xã hội. Quản lý xã hội là tác động có ý thức của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật khách quan của đối tượng nhằm đảm bảo cho nó vận động và phát triển hợp lý để đạt mục tiêu đã định. Hiện nay, ở nước ta các nhà nghiên cứu lý luận giáo dục cho rằng: QLGD là sự tác động có ý thức, có mục đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn một cách có hiệu quả nhất. QLGD còn được hiểu một cách cụ thể là quản lý một hệ thống giáo dục, một trường học, một cơ sở giáo dục hay trung tâm hướng nghiệp dạy nghề … Vì vậy, “Quản lý giáo dục, quản lý trường học là một chuỗi tác động hợp lý (có mục đích, có hệ thống, có kế hoạch) mang tính chất tổ chức sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.