Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với dịch vụ y tế. Chương 2: Thực trạng quản lý của Sở Y tế tỉnh Cao Bằng đối với dịch vụ y tế. Chương 3: Một số giải pháp tăng cường quản lý của Sở Y tế tỉnh Cao Bằng đối với dịch vụ y tế. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI DỊCH VỤ Y TẾ 1.
Khái niệm, đặc điểm và đặc trƣng của quản lý nhà nƣớc đối với dịch vụ y tế 1. Khái niệm quản lý nhà nước Quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực của nhà nước đối với mọi hành vi, hoạt động của công dân, hoặc tổ chức diễn ra trên lãnh thổ quốc gia nhằm xác lập trật tự ổn định, duy trì an ninh trật tự, phát triển xã hội theo đúng mục tiêu mà Nhà nước đề ra. Cá nhân hoặc cơ quan thực thi quản lý nhà nước phải thuộc bộ máy nhà nước và được nhà nước trao quyền nhân danh nhà nước. Quản lý nhà nước được thực thi trên tiền đề pháp luật nhà nước, lấy pháp luật làm công cụ đối chiếu, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật theo luật định một cách nghiêm minh.
Quản lý nhà nước bao gồm quản lý các vật hữu sinh như thiên nhiên, môi trường; quản lý kỹ thuật như máy móc, cơ sở hạ tầng; và quản lý con người. Quản lý nhà nước là yếu tố hết sức quan trọng không thể thiếu trong đời sống xã hội. Xã hội phát triển càng cao thì vai trò của quản lý nhà nước càng lớn và nội dung quản lý càng phức tạp. Có bốn yếu tố đặc biệt quan trọng trong công tác quản lý nhà nước, đó là: Yếu tố con người: con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội.
Mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người. Các cơ quan, viên chức lãnh đạo quản lý cần phải giải quyết một cách đúng đắn, hài hoà, có cơ sở khoa học trong mọi lĩnh vực hoạt động quản lý nhà nước. Yếu tố chính trị: Yếu tố chính trị trong quản lý nhà nước đòi hỏi người quản lý phải quán triệt tư tưởng theo đúng chủ trương, đường lối, chính sách của Nhà nước hiện thời. Yếu tố tổ chức: Tổ chức là khoa học về sự thiết lập các mối quan hệ giữa con người để thực hiện một công việc quản lý.
Đó là sự sắp đặt một hệ thống bộ máy quản lý, quy định chức năng và thẩm quyền cho từng cơ quan trong bộ máy ấy. 7 Yếu tố thông tin: Trong quản lý, thông tin là nguồn căn cứ để ra quyết định quản lý nhằm mang lại hiệu quả. Không có thông tin chính xác và kịp thời người quản lý sẽ bị tụt hậu, không bắt kịp nhịp độ phát triển của xã hội. Đặc điểm của dịch vụ y tế Theo nghiên cứu của Viện Chiến lược và Chính sách y tế, dich vụ y tế có nhiều đặc điểm khác biệt so với các loại hình dịch vụ khác, đó là: - Dịch vụ y tế là loại hàng hoá gắn liền với sức khoẻ, tính mạng con người nên không giống các ngành dịch vụ khác, nếu người sử dụng dịch vụ không đủ điều kiện tài chính thì vẫn phải sử dụng dịch vụ y tế.
Đây là đặc điểm riêng biệt không giống các loại hàng hóa khác của dịch vụ y tế. - Dịch vụ y tế là loại dịch vụ mà người sử dụng (người bệnh) thường không tự mình lựa chọn được mà chủ yếu do bên cung ứng (cơ sở y tế) quyết định. Nói một cách khác, ngược lại với thông lệ “cầu quyết định cung”, trong dịch vụ y tế “cung quyết định cầu”. Cụ thể, người bệnh có nhu cầu khám chữa bệnh nhưng điều trị bằng phương pháp nào, thời gian bao lâu lại do bác sĩ quyết định.
- Mỗi người đều có nguy cơ mắc bệnh và nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ở các mức độ khác nhau. Người sử dụng dịch vụ y tế không dự đoán được thời điểm mắc bệnh nên thường gặp khó khăn trong chi trả các chi phí y tế không lường trước được. - Dịch vụ y tế là các dịch vụ có đặc điểm “hàng hóa công cộng ” và mang tính chất “ngoại lai”. Đặc điểm “ngoại lai” của các dịch vụ này là lợi ích không chỉ giới hạn ở những người trả tiền để hưởng dịch vụ mà kể cả những người không trả tiền (ví dụ: các dịch vụ y tế dự phòng, giáo dục sức khỏe).
Chính điều này không tạo ra được động cơ lợi nhuận cho nhà sản xuất, làm việc cung ứng các dịch vụ đó thấp. Lúc này, để đảm bảo đủ cung đáp ứng cho cầu cần có sự can thiệp hỗ trợ của Nhà nước trong cung ứng các dịch vụ y tế mang tính công cộng. Có ba loại dịch vụ y tế: dịch vụ y tế công cộng, dịch vụ y tế cho các đối tượng cần chăm sóc ưu tiên và dịch vụ y tế cá nhân. Dịch vụ y tế công cộng là các dịch vụ mà lợi ích của những dịch vụ này không chỉ giới hạn ở việc cung ứng trực tiếp (dịch 8 vụ khám chữa bệnh) cho người sử dụng mà còn cung ứng gián tiếp cho cộng đồng như các dịch vụ phòng bệnh, giáo dục y tế.
Dịch vụ y tế cho các đối tượng cần chăm sóc ưu tiên sẽ được dành cho một số đối tượng đặc biệt như người nghèo, bà mẹ - trẻ em, người có công với cách mạng, v. Dịch vụ y tế cá nhân là các dịch vụ y tế chỉ cung ứng trực tiếp cho người sử dụng dịch vụ. Khái niệm quản lý nhà nước đối với dịch vụ y tế Dịch vụ y tế được định nghĩa là các dịch vụ được cung cấp nhằm mục đích bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong lĩnh vực y tế (Thông tư 53/2014/TT-BYT). Dịch vụ y tế là một trong các dịch vụ xã hội cơ bản của con người và được xã hội thừa nhận, bao gồm các hoạt động được thực hiện trong các lĩnh vực: y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng; giám định y khoa, pháp y, pháp y tâm thần; y dược cổ truyền; sức khỏe sinh sản; trang thiết bị y tế; dược; mỹ phẩm; an toàn thực phẩm; bảo hiểm y tế; dân số - kế hoạch hóa gia đình.
Sử dụng dịch vụ y tế là nhu cầu của người dân nhằm bảo vệ và nâng cao sức khỏe. Trong mọi chính sách phát triển kinh tế - xã hội thì nguồn nhân lực chất lượng cao cả về thể chất lẫn tri thức luôn là yếu tố quyết định sự thành công. Nhận thức được điều đó, tại Việt Nam dịch vụ y tế đã và đang được Nhà nước tập trung phát triển mạnh mẽ, từng bước nâng cao chất lượng và chuẩn hoá quy trình dịch vụ y tế. Nội dung quản lý của dịch vụ y tế có thể được phân chia theo loại dịch vụ y tế (trạm y tế, bệnh viện, hiệu thuốc, thầy thuốc tư nhân); vị trí (trong bệnh viện, ngoài bệnh viện, nhà thầy thuốc, nhà bệnh nhân); mục đích sử dụng (điều trị, dự phòng, dưỡng sinh); và thời gian sử dụng (số lần sử dụng một dịch vụ y tế cụ thể trong một khoảng thời gian xác định).
Ở nước ta hiện nay có hai hệ thống y tế cơ bản là y tế công lập và y tế tư nhân. Cả hai hệ thống y tế trên đều phải tuân theo khung pháp lý chung về chuẩn hoá chất lượng y tế. Tuy nhiên với đặc thù về nguồn vốn, hệ thống y tế công chịu sự quản lý hoàn toàn từ Nhà nước, còn hệ thống y tế tư nhân có thể tự vận hành và ra quyết định đảm bảo trong khung pháp lý của nhà nước. Nhà nước là cơ quan tổ chức và chịu trách nhiệm cao nhất về chăm sóc sức khỏe cho người dân.
Tùy theo mô hình tổ chức nhà nước, mỗi quốc gia có phương 9 thức quản lý, phân công trách nhiệm khác nhau. Tại Việt Nam, Bộ Y tế là cơ quan nhà nước cao nhất có thẩm quyền quản lý và chịu trách nhiệm về vấn đề chất lượng, hiệu quả của công tác y tế tại nước ta. Chức năng quản lý của Nhà nước Trung ương là quản lý toàn diện trên phạm vi cả nước, còn chức năng quản lý nhà nước của chính quyền địa phương là quản lý trên phạm vi đơn vị hành chính - lãnh thổ. Tuy nhiên, hai loại chức năng đó không tách biệt nhau, không phải Bộ chỉ quản lý theo ngành mà không có trách nhiệm quản lý theo lãnh thổ cũng như không phải chính quyền địa phương chỉ quản lý theo lãnh thổ mà tách khỏi trách nhiệm trong quản lý ngành.
Quản lý y tế thường được định hướng thông qua các chính sách và kế hoạch cuả Chính phủ, Nhà nước đóng vai trò cao nhất trong việc đưa ra quyết định quản lý các dịch vụ y tế, đặc biệt với các nội dung cấp thiết như: kiểm soát dịch bệnh, chất lượng sản phẩm y tế, nâng cao hệ thống khoa học kỹ thuật, đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế. Đặc trưng quản lý nhà nước đối với dịch vụ y tế Nhà nước là cơ quan quản lý chịu trách nhiệm cao nhất về chất lượng, hiệu quả giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế. Hoạt động y tế là một trong những hoạt động thể hiện chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước ta nên Nhà nước phải giữ vai trò nòng cốt trong việc định hướng cũng như thực thi các chính sách, pháp luật về y tế. Để thể hiện vai trò nòng cốt này.
Các cơ quan quản lý y tế nhà nước tích cực lắng nghe các ý kiến từ xã hội, các diễn đàn trao đổi, các ý kiến tư vấn, gợi ý chính sách nhằm đảm bảo việc quản lý có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển. Nhà nước quản lý theo pháp luật kết hợp thuyết phục, động viên, khuyến khích các chủ thể tham gia giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế. Để xây dựng nền y tế Việt Nam công bằng, hiệu quả và phát triển, đáp ứng yêu cầu chăm sóc sức khoẻ ngày càng đa dạng với chất lượng ngày càng cao của nhân dân đòi hỏi phải tăng cường hiệu lực, hiệu quả của việc quản lý nhà nước bằng pháp luật, góp phần đưa các hoạt động y tế vào trật tự, kỷ cương, kỷ luật và phát triển ổn định. Bên cạnh việc đưa pháp luật về y tế vào cuộc sống, phải gắn thuyết 10 phục, động viên, khuyến khích các chủ thể tham gia giải quyết các vấn đề của lĩnh vực y tế.