Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA Y TẾ 1. QUAN NIỆM VỀ XÃ HỘI HÓA VÀ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA Y TẾ 1. Một số khái niệm có liên quan về xã hội hóa Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công Dịch vụ công là thuật ngữ được sử dụng để chỉ những hoạt động của cơ quan, tổ chức nhà nước hoặc các tổ chức xã hội, tư nhân được nhà nước ủy quyền để thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định, phục vu trực tiếp những nhu cầu thiết yếu chung của cộng đồng, công dân theo nguyên tắc không vụ lợi, đảm bảo sự công bằng và ổn định xã hội [23]. Xã hội hóa Trong những năm gần đây, “xã hội hoá” đã trở thành một chính sách lớn, quan trọng trong việc đổi mới các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội ở Việt Nam.
Tuy nhiên, cho đến nay khái niệm này được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau và có những nội hàm hoàn toàn khác nhau. Trước đây các lĩnh vực dịch vụ công đều do Nhà nước bao cấp và trực tiếp điều hành, tức là được vận hành theo cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp. Chính sách mặc dù đã có tác dụng tích cực trong điều kiện đất nước còn nghèo và có chiến tranh, tuy nhiên các lĩnh vực dịch vụ công chỉ bó hẹp trong phạm vi các nguồn lực có hạn của Nhà nước, gây ra sự lãng phí, hiệu quả thấp trong cung cấp dịch vụ và tâm lý thụ động của nhân dân và các cấp quản lý. Thực hiện chính sách xã hội hoá chính là yêu cầu khách quan để khắc phục tình trạng không hợp lý đó, cũng là giải pháp quan trọng để thực hiện chính sách công bằng xã hội trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước.
9 Luan van Xã hội hoá là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào công cuộc phát triển đất nước. Bản chất của xã hội hoá là huy động các tiềm năng về nhân lực, vật lực, tài lực của toàn xã hội, trên cơ sở đổi mới cơ chế quản lý, đa dạng hoá các hình thức hoạt động và các nguồn đầu tư, đổi mới vai trò và trách nhiệm của Nhà nước, xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tổ chức Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế, xã hội và nghề nghiệp. Thực tế ở nước ta thời gian qua cho thấy, xã hội hóa là một khái niệm bao quát với những nội dung và mức độ khác nhau của các quá trình sau: Xã hội hóa là việc chuyển các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước sang hoạt động theo cơ chế thị trường, tham gia cạnh tranh thị trường đầy đủ và trực tiếp với các thành phần kinh tế khác. Xã hội hóa là việc chuyển dịch cơ chế quản lý ngân sách nhà nước đối với hoạt động cung ứng dịch vụ công từ phương thức cấp phát trực tiếp mang tính bao cấp sang cơ chế đấu thầu theo đơn đặt hàng của nhà nước, không phân biệt doanh nghiệp nhà nước hay ngoài nhà nước.
Xã hội hóa không có nghĩa giảm nhẹ trách nhiệm của nhà nước, giảm bớt ngân sách nhà nước mà xã hội hóa là mở rộng nguồn đầu tư, khai thác tiềm năng nhân lực, vật lực, tài lực của xã hội, cho phép các nhà đầu tư, các doanh nghiệp ngoài khu vực kinh tế nhà nước được tham gia tự do rộng rãi vào các lĩnh vực, hoạt động vốn thuộc sự độc quyền của nhà nước. Xã hội hóa là việc người dân thụ hưởng và sử dụng các dịch vụ tiện ích xã hội được tài trợ từ ngân sách nhà nước phải trả tiền hoặc tăng thêm đóng góp tài chính và tham gia giám sát, dân chủ hơn để thụ hưởng các dịch vụ đa dạng hơn, chất lượng hơn, thuận tiện và phù hợp với nhu cầu. Xã hội hoá dịch vụ công có nghĩa là mở rộng sự tham gia của các chủ thể kinh tế ngoài nhà nước vào việc cung ứng dịch vụ công. Trước đây hoạt động 10 Luan van cung ứng dịch vụ công chỉ do một mình Nhà nước đảm nhiệm thì nay được mở rộng sự tham gia của nhiều chủ thể kinh tế khác dựa trên điều kiện và cơ chế nhất định.
Chính sách xã hội hóa y tế 1. Khái niệm Khái niệm chính sách công Trong hệ thống các công cụ quản lý được Nhà nước dùng để điều hành hoạt động kinh tế - xã hội thì chính sách được coi là công cụ nền tảng định hướng cho các công cụ khác. Theo các nhà nghiên cứu trên thế giới thì “chính sách” là “một đường lối hành động được thông qua và theo đuổi bởi chính quyền, đảng, nhà cai trị, chính khách”; Hay “chính sách bao gồm một chuỗi các quyết định và các hành động mà trong đó phân phối thực hiện các giá trị”; Hoặc “khái niệm chính sách bao hàm sự lựa chọn có chủ định hành động hoặc không hành động, thay vì những tác động của các lực lượng có quan hệ với nhau” [23, tr. Có quan niệm lại cho rằng chính sách là những hành động có tính toán của chủ thể để đối phó với đối tượng quản lý theo hướng đồng thuận hay phản đối.
Như vậy có thể thấy, chính sách đôi khi có thể được nhận thấy dưới hình thức các quyết định đơn lẻ, nhưng thông thường nó bao gồm một tập hợp các quyết định hoặc được nhìn nhận như là một sự định hướng hành động cụ thể. Nhà nước là chủ thể đại diện cho quyền lực của nhân dân, ban hành chính sách để mưu cầu lợi ích cho cộng đồng xã hội. Chính sách của nhà nước (chính sách công) tác động rộng khắp đến mọi đối tượng, mọi quá trình trên phạm vi toàn quốc, có thể mang tính chính trị, kinh tế, hành chính, kỹ thuật được lồng ghép vào các cơ chế quản lý điều hành thống nhất. 11 Luan van PGS.TS Nguyễn Hữu Hải - Học viện Hành chính quốc gia đã đưa ra định nghĩa một cách chung nhất về chính sách công như sau: “Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội” [23, tr.
Như vậy, chính sách công là thể hiện cụ thể của những chủ trương, quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; Có những chủ trương, định hướng phát triển chung và những chủ trương định hướng cho từng ngành và lĩnh vực cụ thể. Chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước. Cơ quan trong bộ máy Nhà nước là chủ thể ban hành chính sách công, thông qua ý chí chính trị của Nhà nước. Các quyết định chính sách công là những quyết định chính trị, bao hàm ý chí chính trị và thực tiễn cuộc sống nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân.
Chính sách công tập trung giải quyết vấn đề xã hội đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định, không chỉ đề ra mục tiêu và các giải pháp với công cụ hành động thực hiện nhằm giải quyết một hoặc một số vấn đề có mối quan hệ biện chứng đang đặt ra trong đời sống xã hội, mà còn giải quyết mối quan hệ giữa các bên tham gia chính sách. Ở nhiều quốc gia hiện nay, chính sách công đã và đang trở thành công cụ chính yếu của Nhà nước để quản lý các đối tượng kinh tế - xã hội. Chính sách công có vai trò đặc biệt quan trọng được dùng để định hướng phát triển và là động lực thúc đẩy các quá trình phát triển kinh tế - xã hội; Đồng thời phát huy các mặt tích cực, hạn chế các mặt tiêu cực, nâng cao chất lượng phát triển xã hội. Ngoài ra, chính sách công còn có vai trò tạo lập sự cân đối hài hòa, bền vững trong phát triển.
Chính sách xã hội hóa y tế là chính sách công, là một tập hợp các quyết định có liên quan của Nhà nước về xã hội hóa y tế nhằm lựa chọn các 12 Luan van mục tiêu cụ thể, giải pháp và công cụ chính sách để giải quyết vấn đề về xã hội hóa y tế theo mục tiêu tổng thể của Đảng và Nhà nước đã xác định. Khái niệm chính sách xã hội hóa y tế Trách nhiệm phát triển sự nghiệp y tế không phải là của riêng tổ chức hay cá nhân nào mà đòi hỏi sự gánh vác của toàn xã hội, cụ thể là Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, doanh nghiệp, gia đình và tổ chức xã hội, các chủ thể cung ứng lẫn đối tượng thụ hưởng dịch vụ y tế. Đương nhiên Nhà nước phải chịu trách nhiệm cao nhất trong việc tổ chức cung ứng dịch vụ cũng như đảm bảo chất lượng dịch vụ. Bên cạnh đó cũng cần tăng cường sự quan tâm và tham gia rộng rãi của xã hội về mặt vật chất và tinh thần đối với các dịch vụ y tế; Mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội; Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho y tế phát triển nhanh với chất lượng ngày càng cao, góp phần thỏa mãn nhu cầu khám và chữa bệnh của người dân, thực hiện công bằng xã hội trong thụ hưởng thành quả dịch vụ y tế nhưng không làm giảm vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực này.
Chính sách xã hội hóa y tế là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân trong việc tạo lập, cải thiện môi trường kinh tế, xã hội thuận lợi cho các hoạt động y tế ở từng địa phương; Khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia quản lý và cung ứng dịch vụ y tế; Đa dạng hóa các loại hình tổ chức hoạt động y tế; Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo phát triển y tế nhưng Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong quản lý tổ chức và cung ứng các dịch vụ y tế.