Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP - GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN HUYỆN CHI LĂNG ĐÁP ỨNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Khái quát về lược sử giáo dục thường xuyên Trên thế giới, Giáo dục thường xuyên được quan tâm từ rất sớm phải kể đến Hội nghị lần I về giáo dục người lớn được tổ chức năm 1949 tại Đan Mạch. Sau này cũng có nhiều Hội nghị về Giáo dục thường xuyên được tổ chức để đánh giá sự phát triển và tìm chỉ ra những thách thức đặt ra đối với Giáo dục thường xuyên trên toàn cầu.
Giữa thế kỷ XX khoa học phát triển như vũ bão trong các nhà trường chính quy không thể cung cấp hết được các kiến thức và tri thức mới cho người học và không còn giữ được vai trò độc tôn trong việc giáo dục và người ta đã thấy được sự khủng hoảng trong giáo dục. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng trong khuôn khổ bó hẹp của nhà trường thì không kịp cập nhật những tiến bộ mới của sự phát triển vì thế cần có giáo dục không chính quy sẽ đáp ứng được yêu cầu bổ sung những thiếu hụt đó và giải quyết được khủng hoảng. Năm 1997 Hội nghị giáo dục người lớn lần thứ V được tổ chức tại Hamburg (Đức) đã chỉ ra tầm quan trọng đặc biệt của việc học tập của người lớn đối với mỗi quốc gia, khẳng định tính cấp thiết trong việc học tập thường xuyên trong cộng đồng, học tập ngay tại nơi làm việc của người lớn. Ở nước ta giáo dục thường xuyên cũng được phát triển từ cuối thế kỷ XX với nhiều hình thức khác nhau qua từng thời kỳ lịch sử: Trong thời kỳ phong kiến, thời kỳ pháp thuộc thì học chủ yếu với các 5 thầy đồ.
Đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ thì mở các lớp bình dân học vụ, các lớp xóa mù chữ. Sau ngày giải phóng được Đảng và Nhà nước quan tâm Giáo dục thường xuyên ngày càng được phát triển và dần được công nhận là một hình thức không thể thiếu trong hệ thống giáo dục quốc dân hiện nay. Tư tưởng Hồ Chí Minh về Giáo dục thường xuyên Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến việc học tập, giáo dục cho mọi người, chưa đầy một tuần sau ngày độc lập, ba sắc lệnh quan trọng về giáo dục đã được Người ký và ban hành: Sắc lệnh 17-SL, thành lập Nha Bình dân học vụ, Sắc lệnh 19-SL, quy định mọi làng phải có lớp học bình dân, và Sắc lệnh 20-SL, cưỡng bách học chữ Quốc ngữ không mất tiền. Hồ Chí Minh quan tâm “trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”, Người dạy rằng: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ”.
Chính vì “học để làm người” và để “làm cho dân tộc chúng ta trở nên một dân tộc dũng cảm, yêu nước, yêu lao động, một dân tộc xứng đáng với nước Việt Nam độc lập” là một nhiệm vụ vinh quang nhưng không dễ dàng, đồng thời để tiến kịp thế giới và đáp ứng sự tiến bộ nhanh chóng của nhân dân, nên “việc học không bao giờ cùng. Học mãi để tiến bộ mãi. Càng tiến bộ càng thấy mình cần phải học thêm”. Đối với các cán bộ Bác nói: học hỏi là một việc phải tiếp tục suốt đời.không ai có thể tự cho mình đã biết đủ rồi, biết hết rồi.
Thế giới ngày nay đổi mới nhân dân ta ngày càng tiến bộ cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân. Có thể nói trong tư tưởng của Bác luôn nhấn mạnh đến việc thường xuyên học tập và học tập suốt đời đó cũng chính là vai trò của giáo dục thường xuyên trong giai đoạn hiện nay. Những định hướng của Đảng và Nhà nước về Giáo dục nghề nghiệp- Giáo dục thường xuyên Trong các Nghị quyết Hội nghị của Đảng luôn quan tâm đến phát triển Giáo dục và Đào tạo tức là phát triển nguồn nhân lực có tay nghề cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Bên cạnh quan tâm phát triển các trường THPT Đảng và Nhà nước ta cũng luôn quan tâm đến việc đào tạo nghề, xây dựng các trường nghề tại các vùng miền khác nhau để phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội của từng vùng miền.
Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo đã đưa ra mục tiêu cụ thể đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên: “Đối với giáo dục nghề nghiệp tập trung đào tạo nhân lực có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp. Hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp với nhiều phương thức và trình độ đào tạo theo hướng ứng dụng, thực hành. ” “Đối với giáo dục thường xuyên, đảm bảo cơ hội cho mọi người, nhất là ở vùng nông thôn, vùng khó khăn, các đối tượng chính sách được học tập nâng cao kiến thức, trình độ, kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ và chất lượng cuộc sống; tạo điều kiện thuận lợi để người lao động chuyển đổi nghề, bảo đảm xóa mù chữ bền vững. Những nghiên cứu ở trong nước về giáo dục thường xuyên Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc đã có nhiều nghiên cứu về dạy học theo phát triển năng lực, đặc biệt là dạy học theo TCNL người học như: Dạy học phát triển năng lực (2015) đăng trên Tạp chí Quản lý giáo dục, bài viết đã đưa ra những phân tích, luận giải khá sâu sắc về vấn đề định hướng dạy học theo TCNL và dạy học theo hướng phát triển năng lực người học, vận 7 dụng các phương pháp kỹ thuật dạy học hiệu quả để giúp học sinh tiếp cận bài học tốt hơn; ngoài ra bài viết cũng nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc phát triển dạy học theo hướng TCNL trong các nhà trường.
Ngoài ra, còn có các nghiên cứu của tác giả Đỗ Thị Bích Loan với nghiên cứu đề tài cấp Bộ “Định hướng giá trị nghề nghiệp cho học sinh THPT khu vực nông thôn đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam” [22, tr.24] đã xây dựng cơ sở lý luận về định hướng giá trị nghề nghiệp cho học sinh THPT ở khu vực nông thôn, miền núi phía Bắc trong bối cảnh kinh tế - xã hội hiện nay nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam. Trong đó, tác giả đã phân tích rõ vai trò, ý nghĩa của công tác giáo dục hướng nghiệp trong TTGDTX cho HS Bậc THPT, cũng như tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến định hướng nghề nghiệp của học sinh. Như vậy, hầu hết các công trình nghiên cứu đều khẳng định dạy học ở trung tâm GDNN-GDTX và quản lý dạy học ở trung tâm GDNN-GDTX có một ý nghĩa và vai trò rất quan trọng định hướng nghề nghiệp cho HS THPT hệ GDTX, là nhân tố trọng yếu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Từ những nghiên cứu về dạy học và quản lý dạy học ở Trung tâm GDNN-GDTX nêu trên, có thể thấy rằng vấn đề này đang là vấn đề rất được quan tâm, có một số nghiên cứu và bài viết đã đề cập đến vấn đề quản lý hoạt động dạy học ở TTGDTX.
Tuy nhiên, đa phần những nghiên cứu này đều mới chỉ dừng lại ở việc đề cập tới vai trò của hoạt động quản lý dạy học trong TTGDTX chứ chưa đưa ra được tình hình quản lý hay đưa ra những giải pháp quản lý hoạt động dạy học trong Trung tâm GDNN-GDTX một cách khoa học, hiệu quả. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý Quản lý là một dạng hoạt động mang tính xã hội đặc biệt quan trọng của con người. Trong tiếng Anh, “Quản lý” được sử dụng bằng thuật ngữ “Management”, với nội hàm là cung cách, cách thức vận hành một hoạt động đạt được mục tiêu, đích đến, đảm bảo quá trình nào đó diễn ra một cách khoa học, hợp lý và hiệu quả cao.
Để có thể tiến hành quản lý một đối tượng nào đó cần có sự kết hợp của những phương thức cung cách quản lý một cách tối ưu hiệu quả có tính hệ thống và một nền tảng nhận thức về nhân lực, trình độ, năng lực của người quản lý điều hành các hoạt động hướng tới những mục đích nhất định. Quản lý là việc thực hiện tổng hợp một chuỗi những năng lực có tính nhận thức và hướng đích nhằm thực hiện một chu trình, quá trình điều khiển khách thể thực hiện một mục tiêu cụ thể từ chủ thể của quá trình quản lý. Người có công đầu trong việc đưa lý luận về khoa học quản lý vào nghiên cứu, không thể không kể đến vai trò của F. Ông là một trong những người đầu tiên khai sinh ra thuật ngữ khoa học quản lý cùng với một hệ thống lý luận đi kèm.
Mặc dù là những nhận thức sơ khởi đầu tiên về quản lý, nhưng “ông tổ” của khoa học quản lý đã đề đạt đến những nhận thức chung nhất về quản lý, khắc họa được tinh thần chung nhất mang tính cốt lõi về quản lý. Tuy nhiên, phải thừa nhận, mặc dù có những định hình đầu tiên rõ nét về quản lý, nhưng trong công trình này, vẫn chưa phân định được rõ nét, rạch ròi sự khác biệt về quản lý với các thành tố gần gũi với nó. Điểm thiếu sót đó đã được các học giả về sau phát triển để dần trở nên hoàn bị. Những đóp góp theo hướng này còn phải kể đến vai trò của M.v… Nhìn chung, khái niệm về quản lý ngày càng được hoàn thiện từ nhiều cách tiếp cận khác nhau.
Điều đó góp phần thúc đẩy những nhận thức sâu sắc 9 hơn nữa về giáo dục, đồng thời tạo điều kiện cho những nghiên cứu chuyên sâu về khoa học quản lý. Tuy nhiên, do góc độ tiếp cận khác nhau nên thuật ngữ quản lý được nhìn nhận không thống nhất do cách luận giải về khái niệm quản lý khác nhau. Là một hoạt động thực tiễn trực tiếp trong giáo dục và đào tạo, dạy học theo tiếp cận năng lực khi tiến hành tổ chức thực hiện cũng chịu sự chi phối, tác động của quản lý theo hệ thống vận hành.