Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA NỘI BỘ Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TRONG BỐI CẢNH THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, đã viết: “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý với khách thể quản lý nhằm đưa ra hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt đến kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [2]. KTNB là chức năng quản lý cơ bản, là khâu đặc biệt quan trọng trong chu trình quản lý đảm bảo tạo lập mối liên hệ ngược thường xuyên, kịp thời giúp Hiệu trưởng hình thành cơ chế điều chỉnh hướng đích trong quá trình quản lý nhà trường. KTNB trường học là một công cụ sắc bén góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý trường học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học trong mỗi nhà trường.
KTNB ở các trường học là một hoạt động thường xuyên. Công tác KTNB trước hết là công tác kiểm tra, tự kiểm tra của các cá nhân, tổ chức, đoàn thể trong nhà trường về thực hiện nhiệm vụ được phân công để tự điều chỉnh, hoàn thiện cá nhân, tổ chức. KTNB còn giúp hiệu trưởng có căn cứ để đánh giá, xếp loại viên chức theo chuẩn chức danh nghề nghiệp; xếp loại thi đua, khen thưởng; sắp xếp, bố trí cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên hợp lý nhằm phát huy tối đa năng lực của từng tổ chức, cá nhân trong nhà trường. Ở nước ngoài, KTNB đã được các nhà nghiên cứu, đánh giá và có chỉ ra rằng hoạt động KTNB có tác động tích cực và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dạy và học trong các nhà trường, nó đóng vai trò quan trọng trong công tác quản lý trường học, góp phần cải thiện và duy trì sự phát triển môi trường giáo dục, như: 7 Tại Mỹ, kiểm tra nội bộ trong trường học được đề cập đến tại nghiên cứu của tác giả Davies, D.
(2001) với đề tài: “Đánh giá kiểm tra nội bộ” (Local Education Authority) [19], nghiên cứu này đã đánh giá các yếu tố tác động đến việc đưa ra quyết định thực hiện KTNB trường học của các trường học tại Mỹ, nghiên cứu đã chỉ rõ được vai trò, tầm quan trọng của lãnh đạo nhà trường trong việc đưa ra quyết định việc thực hiện KTNB và kết quả của công tác KTNB trong nhà trường. Tại Anh, có nghiên cứu của các tác giả Hall, C. (2007) với đề tài: “Ảnh hưởng của kiểm tra nội bộ trường học đến quan điểm của giáo viên tại Anh về công tác giảng dạy của bản thân” [22], với đề tài này các tác giả đã tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa người kiểm tra và đối tượng kiểm tra khi thực hiện công tác KTNB trong trường học, phân tích về nhận thức của giáo viên và hiểu biết của họ về quy trình tự đánh giá chất lượng giảng dạy của mỗi giáo viên, đánh giá tác động và lợi ích của công tác KTNB trường học trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy tại nhà trường. Tại Hà Lan, có nghiên cứu của các tác giả Ah-Teck, J.
(2014) với đề tài: “Quản lý chất lượng giáo dục tại Mauritius và các quyết định của hiệu trưởng đến cải thiện môi trường giáo dục” [1], với đề tài này các tác giả đã tập trung nghiên cứu, đánh giá tác động của việc sử dụng hệ thống dữ liệu quản lý chất lượng nội bộ trường học trong việc đưa ra các quyết định cải thiện môi trường giáo dục của hiệu trưởng, trong nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng công tác quản lý chất lượng KTNB của hiệu trưởng đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình quản lý chất lượng giáo dục và quản lý nhà trường. Tại Việt Nam, có một số nghiên cứu, bài viết và luận văn nghiên cứu về công tác QLGD, quản lý KTNB trường học: Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang (1989): “… kiểm tra giữ vai trò liên hệ nghịch trong quá trình quản lý. Nó giúp cho chủ thể quản lý điều 8 khiển một cách tối ưu hệ quản lý. Không có kiểm tra không có quản lý” [30].
Theo tác giả Hà Sĩ Hồ (1982): “Chức năng kiểm tra đặc biệt quan trọng, vì quá trình quản lý đòi hỏi những thông tin chính xác, kịp thời về thực trạng của đối tượng quản lý, về việc thực hiện các quyết định đã đề ra, tức là đòi hỏi những liên hệ ngược chính xác, vững chắc giữa các phân hệ quản lý…” [24]. Nghiên cứu của tác giả Võ Hồng Kỳ (2022): “Một số giải pháp về công tác kiểm tra nội bộ trường học” trong đó có đề cập đến một số giải pháp như: “Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ quản lý về công tác kiểm tra, tăng cường công khai minh bạch trong hoạt động kiểm tra, tổ chức kiểm tra giám sát công tác kiểm tra nội bộ trường học”. Tuy nhiên, tác giả chỉ đề cập đến một số giải pháp chung cho công tác KTNB trong trường học, không đề xuất giải pháp về công tác KTNB dành riêng cho cấp học THPT [26]. Luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Viết Hùng (2016) với đề tài: “Biện pháp quản lý công tác kiểm tra nội bộ tại các trường tiểu học trên địa bàn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng”, tại nghiên cứu này tác giả đã đưa ra một số biện pháp quản lý hoạt động KTNB trong trường tiểu học [25].
Luận văn thạc sĩ của tác giả Huỳnh Viết Trung (2017) với đề tài: “Kiểm tra nội bộ tại các trung tâm giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk”, tác giả đã đưa ra một số biện pháp quản lý hoạt động KTNB đối với các trung tâm giáo dục thường xuyên [41]. Các nghiên cứu trong nước của các tác giả nêu trên đều chỉ rõ vai trò, tầm quan trọng và lợi ích của hoạt động KTNB trong quản lý nhà trường và một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả quản lý hoạt động KTNB trường học góp phần nâng cao chất lượng dạy và học trong các nhà trường, tuy nhiên, các giải pháp quản lý hoạt động KTNB mà các tác giả đã nêu chỉ dừng lại ở mức độ áp dụng phù hợp và khả thi cho một số trường học nơi tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài trong phạm vi hẹp. Còn rất ít những công trình nghiên cứu, bài viết có giải pháp mang tính khả thi cao và có thể áp dụng rộng rãi trên phạm vi toàn quốc về quản lý công tác KTNB ở cấp học THPT trong bối 9 cảnh thực hiện Chương trình GDPT 2018 hiện nay. Một số khái niệm cơ bản 1.
Quản lý Quản lý (Management) là một hoạt động cần thiết và có vai trò quan trọng trong việc duy trì tính ổn định, tạo nên hiệu quả trong quá trình hoạt động của các cơ quan, tổ chức. Theo tác giả FW Taylor định nghĩa về quản lý: “Quản lý là một nghệ thuật biết phải làm gì khi cần làm và thấy rằng nó được thực hiện theo cách tốt nhất và rẻ nhất”[20]. Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý có nghĩa là tiến hành một công việc, là làm cho một sự kiện nảy sinh, là quá trình lôi cuốn tất cả mọi người vào hoạt động của họ trong tổ chức. Quản lý là hoạt động chung của toàn bộ tổ chức” [27].
Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, kiểm tra) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt mục tiêu đã đề ra. Quản lý có bốn chức năng cơ bản, gồm: (1) Lập kế hoạch hay còn gọi là hoạch định; (2) Tổ chức thực hiện; (3) Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện kế hoạch; (4) Kiểm tra. Quản lý giáo dục Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức có tổ chức của các cơ quan quản lý giáo dục các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học - giáo dục nhằm làm cho hệ thống giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đề ra” và “Trong thực tế, quản lý giáo dục là quá trình tác động có kế hoạch, có tổ chức của các cơ quan quản lý giáo dục các cấp tới các thành tố của quá trình dạy học - giáo dục nhằm làm cho hệ giáo dục vận hành có hiệu quả và đạt tới mục tiêu giáo dục nhà nước đề ra” [27]. Kiểm tra Theo nghĩa Hán - Việt: Kiểm tra là xem xét việc làm đúng hay sai.
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét” [29].Lênin: “Hiện nay, thực tiễn là tất cả; rằng đã đến một thời kỳ lịch sử mà lý luận biến thành thực tiễn, trở nên sinh động bằng thực tiễn, được sửa chữa bằng thực tiễn, được kiểm tra lại trong thực tiễn” [45]. Theo tác giả Harold Koontz (1993): “Kiểm tra là đo lường, chấn chỉnh các hoạt động của bộ phận cấp dưới, để tin chắc rằng các mục tiêu và các kế hoạch thực hiện mục tiêu đó đang được hoàn thành” [23]. Theo Tài liệu bồi dưỡng nghiệp vụ cộng tác viên thanh tra giáo dục, Trường Cán bộ Quản lý giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh (2020): “Kiểm tra là hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội (bao gồm cả kiểm tra nội bộ, tự kiểm tra) để nhìn nhận khách quan bản chất của sự việc, hiện tượng có trong các hoạt động của chính cơ quan, tổ chức đó, nhằm điều chỉnh các hoạt động ấy để phù hợp với trạng thái định trước” [42]. Kiểm tra là việc đo lường quá trình thực hiện kế hoạch trên thực tế, qua đó phát hiện những sai lệch nhằm đưa ra biện pháp điều chỉnh kịp thời để đảm bảo rằng tổ chức sẽ thực hiện được các mục tiêu kế hoạch đề ra hay: Kiểm tra là hoạt động xem xét, đánh giá của chủ thể quản lý với đối tượng quản lý trong việc thực hiện kế hoạch, chính sách pháp luật, nội quy, quy chế, hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ của đơn vị nhằm kịp thời phát hiện, điều chỉnh các quyết định quản lý của chủ thể quản lý để đạt mục tiêu, mục đích quản lý.
Do vậy, kiểm tra là hoạt động xem xét, đánh giá, xử lý của cơ quan quản lý giáo dục các cấp đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền quản lý.