Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CHUYÊN MÔN, NGHIỆP VỤ CHO GIÁO VIÊN CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG ĐÁP ỨNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên Trong lịch sử giáo dục, bàn về bồi dưỡng giáo viên đã được các nhà giáo dục trên thế giới trong lịch sử và hiện tại đề cập đến ở những phương diện tiếp cận, nội dung và có những giá trị cần khảo cứu, tiếp thu để triển khai ứng dụng trong tình hình mới.
Nhận thức về vai trò, tính chất chuyên nghiệp trong lao động nghề nghiệp của giáo viên, nhiều công trình nghiên cứu đã khẳng định tầm quan trọng của năng lực sư phạm, kỹ năng dạy học, giáo dục của giáo viên. Do vậy, đã có nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục nghiên cứu và cho công bố sản phẩm về bồi dưỡng giáo viên, trong đó có thể kể đến: Với tuyển tập “Chuẩn bị cho sinh viên làm công tác giáo dục ở trường phổ thông”, của nhóm tác giả N. Các tác giả đã đặc biệt quan tâm tới vai trò kỹ năng sư phạm đối với nghề dạy học của người giáo viên. Theo nhóm tác giả, người giáo viên không chỉ cần kiến thức phong phú về chuyên môn mà còn cần có những kỹ năng cần thiết để tổ chức thực hành công tác dạy học, giáo dục.
Muốn làm công tác giáo dục tốt cần phải có những kỹ năng giáo dục tốt. Vì vậy, việc bồi dưỡng năng lực CM, NV cho giáo viên phải được làm thường xuyên [12]. Tác giả Guy Brouseau, trong bài đã phân tích kỹ vai trò của người dạy trong sự tương tác với môi trường - nội dung và người học, đó là chuyển giao một tình huống và thể chế hóa tri thức (làm sống lại kiến thức, làm cho kiến thức được tạo ra bởi chính người học như là câu trả lời cho tình huống và biến 9 đổi câu trả lời của người học thành tri thức khoa học) [1] Claire Margolinas trong bài viết “Chuyển giao và sự thể chế hóa: hai quan điểm đối nghịch của vai trò người thầy giáo”, đã chỉ ra cơ chế tác động qua lại giữa thầy giáo và học sinh, liên quan đến tri thức trong một môi trường dạy học. Yếu tố môi trường không đơn giản là môi trường sống, môi trường làm việc mà là “môi trường sư phạm” - ngữ cảnh có vấn đề và sự thích nghi của người học trước những đòi hỏi của môi trường ấy dưới sự giúp đỡ của người dạy, ở đây không chỉ làm biến đổi kiến thức ở họ mà còn phát triển hoạt động của họ [16].
Với cuốn sách “Teacher professional development” (Phát triển chuyên môn của giáo viên), tác giả Eleonora Villegas - Reimers đã khẳng định khi giáo viên có chuyên môn tốt, với phương pháp dạy học hợp lý sẽ tác động trực tiếp đến học sinh trong quá trình học tập, tiếp thu kiến thức của học sinh. Theo tác giả Eleonora Villegas - Reimers giáo viên học cách dạy và giáo dục để trở thành một giáo viên giỏi không phải một sớm, một chiều mà là cả một quá trình lâu dài, phức tạp, đòi hỏi mỗi giáo viên không chỉ hình thành, phát triển các kỹ năng nghề mà còn trau dồi thêm kiến thức, kinh nghiệp từ các chuyên gia giáo dục. Theo đó, bồi dưỡng năng lực CM, NV cho giáo viên là đòi hỏi tất yếu trong suốt thời gian công tác của mỗi giáo viên [42]. Ở Việt Nam, nghiên cứu về bồi dưỡng năng lực CM, NV cho giáo viên được các nhà khoa học, CBQL giáo dục quan tâm nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau, có thể kể đến: Trong cuốn sách “Vấn đề giáo viên, những nghiên cứu lí luận và thực tiễn”, tác giả Trần Bá Hoành đã đã tiếp cận vấn đề nghiên cứu từ đặc điểm lao động sư phạm của giáo viên để nghiên cứu về chất lượng giáo viên, chỉ ra chất lượng giáo viên bao gồm hai yếu tố cấu thành là phẩm chất và năng lực.
Các thuộc tính cơ bản của phẩm chất giáo viên là lòng yêu nghề, yêu trẻ, đạo đức 10 và tính gương mẫu. Hệ thống năng lực của giáo viên được thể hiện qua việc nắm vững đặc điểm tâm, sinh lý từng lứa tuổi học sinh, năng lực thiết kế và tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học, năng lực đánh giá học sinh, cũng như năng lực giải quyết các tình huống nảy sinh trong giáo dục. Những yếu tố chủ yếu ảnh hưởng tới chất lượng của giáo viên là đào tạo, sử dụng và bồi dưỡng giáo viên và năng lực tự học, nâng cao trình độ chuyên môn [24]. Tác giả Phan Văn Kha với đề tài “Thực trạng nghiệp vụ sư phạm giáo viên trung cấp chuyên nghiệp và những đề xuất xây dựng chuẩn nghiệp vụ sư phạm giáo viên trung cấp chuyên nghiệp”.
Nội dung đề tài tập trung đánh giá thực trạng trình độ năng lực của giáo viên trung cấp chuyên nghiệp, công tác tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên trung cấp chuyên nghiệp, thực trạng về đánh giá nghiệp vụ sư phạm của giáo viên trung cấp chuyên nghiệp. Từ đó, đề xuất được các biện pháp nhằm nâng cao chuẩn nghề nghiệp đào tạo cho giáo viên, đáp ứng sự phát triển của trường trung cấp [27]. Tác giả Phạm Thị Kim Anh với bài báo: “Thực trạng năng lực giáo viên THPT trước yêu cầu đổi mới GDPT” đã đề xuất một số biện pháp góp phần nâng cao năng lực nghề nghiệp cho giáo viên đáp ứng với chương trình GDPT mới, đó là các trường sư phạm cần đổi mới, thiết kế lại chương trình đào tạo giáo viên theo mục tiêu phát triển năng lực nghề và sự thay đổi của chương trình, sách giáo khoa mới sau 2018; đổi mới công tác tuyển sinh để lựa chọn những thí sinh vào sư phạm có năng lực dạy học tốt [1]… Tác giả Đậu Thị Hòa, với bài báo “Bồi dưỡng năng lực dạy học cho giáo viên tiểu học theo hướng phát triển năng lực học sinh”. Tác giả khẳng định để nâng cao năng lực dạy học của giáo viên quyết định chất lượng giáo dục trong nhà trường.
Đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, khuyến khích, tạo điều kiện cho giáo viên học tập, bồi dưỡng là những quyết sách đúng đắn, bền vững để phát triển một nền giáo dục có chất lượng [23]. 11 Từ tổng quan các công trình nghiên cứu được trình bày ở trên cho thấy, các công trình nghiên cứu đã nhấn mạnh tầm quan trọng, định hướng lý luận của việc bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên và bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên; vấn đề bồi dưỡng giáo viên, bồi dưỡng CM, NV cho giáo viên đã được nghiên cứu ở các góc độ khác nhau. Tuy nhiên, các nghiên cứu đó đa phần đều ở dạng nghiên cứu vĩ mô, khái quát, mang tính tổng thể chưa đi sâu để giải quyết các yêu cầu cụ thể, cần thiết về hoạt động bồi dưỡng năng lực CM, NV cho giáo viên THPT đáp ứng chương trình GDPT 2018. Những nghiên cứu về quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên Ở Liên bang Nga, các nhà giáo dục đã có rất nhiều nghiên cứu với định hướng tập trung nâng cao “Vị thế xã hội và trình độ nghề nghiệp của đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục”.
Việc quản lý đào tạo và nâng cao trình độ của giáo viên được quy định cụ thể trong Luật giáo dục đại học và sau đại học, nhằm bảo đảm tạo ra những điều kiện cần thiết, để ít ra 5 năm một lần nâng cao trình độ của cán bộ khoa học - giảng dạy các trường đại học công lập, các cán bộ khoa học - giảng dạy của các cơ sở và tổ chức khoa học nhà nước hoạt động trong hệ thống giáo dục đại học và sau đại học”. Như vậy, Liên bang Nga rất coi trọng công tác quản lý bồi dưỡng năng lực CM, NV trong hệ thống giáo dục, thông qua việc quản lý các khóa bồi dưỡng nâng cao trình độ giáo viên theo kế hoạch ngắn hạn và trung hạn [25]. Ở Trung Quốc, vấn đề phát triển giáo dục luôn được coi trọng như nâng cao chất lượng, khẳng định thương hiệu. Các trường phải được bắt đầu từ việc đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng giáo viên theo hướng “Xây dựng giáo viên có đạo đức tư tưởng tốt và có khả năng chuyên môn, thúc đẩy sự phát triển của sự nghiệp giáo dục xã hội chủ nghĩa” [25].
Ở Nhật Bản, việc bồi dưỡng CBQL giáo dục và giáo viên rất được chú 12 trọng. Họ nhấn mạnh đến việc cải tiến phương pháp thực tập sư phạm; sử dụng thiết bị dạy học tân tiến; áp dụng các mô hình đào tạo tại chức để bồi dưỡng nâng cao trình độ giáo viên. Công tác quản lý bồi dưỡng được tổ chức và điều hành rất khoa học thông qua việc lập kế hoạch tập huấn, bồi dưỡng theo hệ thống nhất định từ cấp trung ương đến địa phương. Từ đó, có thể thấy công tác quản lý bồi dưỡng nâng cao trình độ giáo viên ở Nhật Bản đã được chú trọng và đem lại hiệu quả [25].
Giáo dục của Hàn Quốc, với chính sách cải cách giáo dục nhằm khắc phục những hạn chế trong công tác đào tạo giáo viên, nên có nhiều nghiên cứu tập trung cải cách hệ thống đào tạo và bồi dưỡng tại chức theo hướng đa dạng, phong phú, đặc biệt coi trọng phẩm chất chuyên môn và bồi dưỡng tính tự trọng, tự hào nghề nghiệp. Giáo viên được tổ chức đào tạo tại chức theo định kỳ với nội dung các chương trình đào tạo được cập nhật liên tục, xây dựng các chương trình đào tạo bậc cao cho từng ngành và từng môn học; xây dựng “Chương trình cốt lõi chuẩn mực quốc gia” về sư phạm; công tác quản lý bồi dưỡng năng lực CM, NV chú trọng việc sử dụng các hình thức đào tạo, bồi dưỡng tại chức đa dạng; thực hiện kiểm tra, đánh giá các cơ sở đào tạo từ đó lựa chọn các trường sư phạm được đánh giá xuất sắc tham gia đào tạo, bồi dưỡng năng lực CM, NV cả về kiến thức, kỹ năng thực hành, phát triển các kỹ năng cần thiết về giáo dục và các lĩnh vực liên quan [25]. Các công trình khoa học bàn về quản lý bồi dưỡng giáo viên, có thể kể đến, như kết luận Hội nghị của Ủy ban Châu Âu về phát triển kỹ năng nghề nghiệp theo cách đánh giá học tập “Teacher professional development in a policy learning perspective đã đề cao vai trò của từng người trong bồi dưỡng để phát triển năng lực cho bản thân mỗi giáo viên” [44].