CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ QUÁ TRÌNH DẠY HỌC MÔN TOÁN Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổng quan nghiên cứu của vấn đề 1. Trên thế giới Như chúng ta đã biết Toán học có nguồn gốc thực tiễn. Số học ra đời trước hết do nhu cầu đếm.
Hình học phát sinh do sự cần thiết phải đo lại ruộng đất bên bờ sông Nin (Ai cập) sau những trận lụt hàng năm. Khi nói đến nguồn gốc thực tiễn của Toán học cũng cần nhấn mạnh cả nguồn gốc thực tiễn của chính các quy luật của logic hình thức được sử dụng trong toán học. Lênin đã viết: “Những hình thức và quy luật logic không phải là cái vỏ trống rỗng mà là sự phản ánh thế giới khách quan, thực tiễn của con người, được lặp đi lặp lại hàng nghìn triệu lần, sẽ được củng cố vào ý thức người ta dưới những hình thức của logic học” [15]. Theo Ăng ghen, “Đối tượng của Toán học thuần túy là những hình dạng không gian và những quan hệ số lượng của thế giới khách quan” [15].
Khổng Tử (551-479 trước công nguyên) với quan điểm dạy học gắn liền với PPDH môn Toán hiện nay là: “Dùng cách gợi mở, đi từ gần tới xa, từ đơn giản đến phức tạp, nhưng vẫn đòi hỏi người học phải tích cực suy nghĩ. Đòi hỏi học trò phải tập luyện, phải hình thành nề nếp, thói quen học tập” và “học không biết chán, dạy không biết mỏi” [24]. Quan điểm của ông muốn mang lại hiệu quả dạy học phải đề cao đến các quy định về nề nếp dạy học, nâng cao trình độ của người dạy để lựa chọn được những PPDH theo hướng đề cao năng lực tự học, phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của người học.Cômenxki (1592-1670) đã đưa ra những quan điểm về QTDH mà chúng ta có thể vận dụng trong QTDH môn Toán. Theo ông quá trình dạy học để truyền thụ và tiếp nhận tri thức là phải dựa vào sự vật hiện tượng do HS tự quan sát, tự suy nghĩ mà hiểu biết, không nên áp đặt, gò ép người ta chấp nhận bất kỳ một điều gì và ông đã nêu ra một số nguyên tắc dạy học có giá trị rất lớn: nguyên tắc trực quan; nguyên tắc phát huy tính tự giác tích cực của HS; nguyên tắc hệ thống và liên tục; 5 nguyên tắc củng cố kiến thức; nguyên tắc dạy học theo khả năng tiếp thu của HS (vừa sức); dạy học phải thiết thực và dạy học theo nguyên tắc cá biệt [24].
Ở Việt Nam QTDH môn Toán được tổ chức trên lớp, ngoài ra còn có thể tổ chức những hoạt động thực hành Toán ngoài nhà trường như ở nhà máy, công xưởng, đồng ruộng, kể cả những hoạt động có tính chất tập dượt nghiên cứu bao gồm cả các khâu đặt bài toán, xây dựng mô hình, thu thập dữ liệu, xử lý mô hình để tìm lời giải, đối chiếu lời giải với thực tế để kiểm tra và điều chỉnh [15]. Đề cập đến phương tiện trực quan trong QTDH môn Toán: “Phương tiện trực quan tượng trưng là một hệ thống kí hiệu quy ước nhằm biểu diễn tính chất muốn nghiên cứu tách rời khỏi tất cả các tính chất khác của đối tượng và hiện tượng” [15]. Theo tác giả Phạm Văn Hoàn, trong công tác bồi dưỡng HS giỏi môn Toán cần bồi dưỡng cho HS tác phong, phương pháp nghiên cứu và thói quen tự đọc sách. Trong công tác dạy học, phụ đạo HS yếu kém môn Toán, theo tác giả Phạm Văn Hoàn, thầy giáo nên coi trọng tính vững chắc của kiến thức, kĩ năng hơn là chạy theo mục tiêu đề cao, mở rộng kiến thức [15].
Nghiên cứu về quản lý nhà trường nói chung và quản lý QTDH nói riêng có các tác giả như: Nguyễn Ngọc Quang, Phạm Viết Vượng, Nguyễn Văn Lê, Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt… Các công trình khoa học trên với tầm vóc qui mô về giá trị lý luận và thực tiễn được ứng dụng rộng rãi và mang lại hiệu quả to lớn trong phát triển sự nghiệp giáo dục nước nhà. Tuy nhiên phần lớn các công trình trên chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu về lý luận có tính chất tổng quan về quản lý giáo dục, quản lý trường học, còn về quản lý QTDH môn Toán ở trường THCS chưa được đề cập nhiều. Trước yêu cầu của thực tiễn ở các trường THCS là đổi mới công tác quản lý QTDH, trong đó có quản lý QTDH môn Toán, nhiều học viên cao học quản lý giáo dục đã đi vào nghiên cứu thực trạng quản lý QTDH ở các trường THCS và đề xuất những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả trong công tác quản lý QTDH như: - Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học của các Hiệu trưởng các trường THCS quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội của tác giả Nguyễn Như Thắng, 6 - Biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo hướng đổi mới PPDH ở các trường THCS huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương của tác giả Nguyễn Thị Phương, - Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy và học môn Toán đối với các trường THCS của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Bắc Ninh của tác giả Nguyễn Như Minh… Từ các công trình nghiên cứu kể trên, tôi nhận thấy có rất ít công trình nghiên cứu sâu về quản lý QTDH các bộ môn nói chung và môn Toán nói riêng ở các trường THCS huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương và đây cũng là một trong những lý do tác giả viết bài luận văn này. Một số khái niệm công cụ 1.
Quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 1. Khái niệm quản lý Bản thân khái niệm quản lý có tính đa nghĩa lại do sự khác biệt của thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều cách giải thích, cách hiểu khác nhau. Cùng với sự phát triển của phương thức sản xuất và sự mở rộng trong nhận thức của con người thì sự khác biệt về nhận thức và lý giải khái niệm quản lý càng trở nên phong phú, đa dạng. Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý: Theo F.Taylor (1856-1915), “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [9, tr.Koontz khẳng định: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lự hoạt động cá nhân nhằm đạt được những mục đích của nhóm (tổ chức).
Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [9, tr.Marx: “Quản lý là lao động điều khiển lao động” [14, tr. Theo ông: Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một 7 người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải nhạc trưởng. Theo từ điển Tiếng Việt: thuật ngữ “Quản lý” được xác định là: “Trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định” [25, tr 329].
Theo nghĩa Hán Việt: Quản lý = Quản + lý, là sự duy trì + sự đổi mới. Trong “Quản”(giữ) có “Lý” (chỉnh sửa) trong “Lý” (chỉnh sửa) có “Quản” (giữ), quản lý là quá trình có tính thống nhất biện chứng hai vấn đề “Quản” và “Lý” [2, tr. Trong “Quản” phải có “Lý” thì toàn bộ hệ thống, tổ chức mới phát triển được, trong “Lý” phải có “Quản” thì sự phát triển đó mới ổn định bền vững. Hai quá trình này phải được gắn bó chặt chẽ với nhau thì toàn hệ mới đạt thế cân bằng động, tồn tại và phát triển phù hợp trong mối tương tác với các yếu tố bên trong và bên ngoài.
Quản lý mang tính lịch sử- xã hội cao, các quan niệm, mô hình, tính chất phương thức quản lý chuyển đổi theo sự phát triển của đời sống xã hội. “Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các danh mục trên đề ra một cách hiệu quả nhất” [9, tr. Theo các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí: Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Các tác giả cũng khẳng định, hiện nay, hoạt động quản lý thường được định nghĩa rõ hơn là: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [19, tr.
Qua khái niệm trên thấy rằng: Quản lý thực chất cũng là một hành vi, đã là hành vi thì phải có người gây ra và người chịu tác động cần có mục đích của hành vi, đặt ra câu hỏi tại sao làm như vậy? Do đó để hình thành nên hoạt động quản lý trước tiên cần có chủ thể quản lý: nói rõ ai là người quản lý? Sau đó cần xác định đối tượng quản lý: quản lý cái gì, cần xác định mục đích quản lý: quản lý vì cái gì? Đồng thời trong bất cứ hoạt động quản lý nào cũng không phải là hoạt động độc 8 lập, nó cần được tiến hành trong môi trường, điều kiện nhất định nào đó. Quản lý trong hoàn cảnh nào? Những định nghĩa trên đây tuy khác nhau về cách diễn đạt, nhưng đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản, quản lý phải bao gồm các yếu tố (các điều kiện) sau: - Phải có ít nhất một chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất là một đối tượng bị quản lý tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý tạo ra và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp của chủ thể quản lý. tác động có thể chỉ là một lần mà cũng có thể là liên tục nhiều lần. - Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động.