phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đào tạo lưu học sinh trong cơ sở giáo dục Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động đào tạo lưu học sinh tại trường Hữu Nghị 80 Chƣơng 3: Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động đào tạo lưu học sinh tại trường Hữu Nghị 80 trong giai đoạn hiện nay 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO LƢU HỌC SINH TRONG CƠ SỞ GIÁO DỤC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Quản lý HĐĐT là mảng đề tài nghiên cứu được nhiều học viên cao học và nghiên cứu sinh quan tâm. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, trước những đòi hỏi bức thiết của xã hội về nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội, các nhà QLGD càng phải quan tâm, nghiên cứu để đưa ra những biện pháp phù hợp để quản lý HĐĐT tại cơ sở giáo dục của mình. Đào tạo Tiếng Việt và DBĐH cho LHS là một nhiệm vụ đặc thù, không phải phổ biến ở các nhà trường nên đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về quản lý HĐĐT Tiếng Việt và DBĐH cho LHS.
Hiện nay nhiều trường đại học và học viện có đào tạo bậc đại học và sau đại học cho LHS nhưng tỷ lệ LHS so với SV Việt Nam là rất nhỏ vì vậy các tác giả tập trung nghiên cứu về quản lý HĐĐT nói chung, ít tác giả nghiên cứu về HĐĐT LHS. Đào tạo tiếng Việt và DBĐH cho LHS Lào, Campuchia là một nhiệm vụ đặc thù. Đây là một vấn đề hoàn toàn mới, cần có những nghiên cứu để tìm ra các biện pháp quản lý đào tạo có hiệu quả. Đề tài mà tôi nghiên cứu “Quản lý hoạt động đào tạo lưu học sinh tại trường Hữu Nghị 80 trong giai đoạn hiện nay” với mong muốn đóng góp một số các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo tiếng Việt và DBĐH cho LHS tại trường Hữu Nghị 80 và một số cơ sở đào tạo tiếng Việt và DBĐH cho LHS; tạo nền tảng tốt về ngôn ngữ và kiến thức phổ thông cho LHS học tập và nghiên cứu ở các cơ sở giáo dục đại học.
Một số khái niệm công cụ nghiên cứu đề tài 1. Khái niệm quản lý Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mọi quốc gia và ở mọi thời đại. Lịch sử đã chỉ rõ, ngay từ buổi sơ khai của loài người, để tồn tại và phát triển con người đã biết liên kết nhau thành các nhóm để chống lại thú dữ và cải tạo thiên nhiên. Do đó đã xuất hiện các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội và giữa con người với chính bản thân mình.
Trong quá trình ấy, đã xuất hiện một số người có năng lực chi phối được người khác, họ điều khiển hoạt động của nhóm sao cho phù hợp với mục tiêu chung. Những người đó đóng vai trò thủ lĩnh để quản lý nhóm, điều này đã làm nảy sinh nhu cầu về quản lý. Như vậy, quản lý xuất hiện từ rất sớm và tồn tại, phát triển đến ngày nay. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [2, tr.
Các nhà lý luận trên thế giới như: Frederich Winslow Taylor (1856 - 1915, đã định nghĩa: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất ”. [19] Các quan điểm khác: - Quản lý là quá trình tác động có định hướng có tổ chức dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối trượng được ổn định và phát triển tới mục tiêu đã định. - Quản lý là một nghệ thuật đạt được những mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của những người khác. Từ các cách tiếp cận khác nhau về khái niệm quản lý, có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có ý thức nhằm điều khiển các quá trình xã hội, các hành vi hoạt động của con người để đạt được mục đích với ý chí của các nhà quản lý phù hợp với qui luật khách quan.
15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các chức năng quản lý Bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và qui mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của mình. Vậy người quản lý phải làm gì, hay ta đang nói đến các chức năng của quản lý. - Chức năng kế hoạch hóa: Kế hoạch hóa có nghĩa là xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó.
Có ba nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hóa: + Xác định, hình thành mục tiêu (phương hướng) đối với tổ chức. + Xác định và đảm bảo về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu đó. + Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó. - Chức năng tổ chức: Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần chuyển hóa những ý tưởng ấy thành hiện thực.
Xét về mặt chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực, nhân lực. Quá trình tổ chức sẽ lôi cuốn việc hình thành, xây dựng các bộ phận, các phòng ban cùng các công việc của chúng. Sau đó là vấn đề nhân sự, cán bộ sẽ tiếp nối ngay sau các chức năng kế hoạch hóa và tổ chức.
- Chức năng lãnh đạo - chỉ đạo: Sau khi kế hoạch đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có ai đó đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức. Lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng quản lý, thông qua đó một cá nhân, một nhóm hoặc tổ chức theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết. Một kết quả hoạt động phải phù hợp với những chi phí bỏ ra, nếu không tương ứng thì phải tiến hành những hành động điều chỉnh, uốn nắn.
Diễn ra có tính chu kỳ như sau: + Người quản lý đặt ra những chuẩn mực thành đạt của hoạt động. + Người quản lý đối chiếu, đo lường kết quả, sự thành đạt so với chuẩn mực đề ra. + Người quản lý điều chỉnh những sai lệch. + Người quản lý hiệu chỉnh, sửa lại chuẩn mực nếu cần.
Biện pháp quản lý Biện pháp quản lý được xem là yếu tố linh hoạt, thường được thay đổi theo đối tượng quản lý. Các nhà quản lý chỉ thực hiện tốt các chức năng của mình khi nhận thức đúng và sử dụng tốt các biện pháp quản lý. Đối tượng quản lý là những con người, là một thực thể có cá tính, có thói quen, tình cảm, nhân cách gắn với các hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Ngoài ra, con người còn là một chủ thể quản lý phải biết lôi cuốn, thúc đẩy mọi người trong tổ chức tham gia công việc chung, đem hết sức lực, tài năng làm việc cho tổ chức.
Chỉ có như vậy mới thực hiện được mục tiêu chung, làm cho tổ chức ngày càng vững mạnh. Thực tế cho thấy, phần lớn kết quả của một quá trình quản lý lại tuỳ thuộc vào sự lựa chọn và sử dụng các biện pháp quản lý, điều đó giúp cho chủ thể quản lý có thể tạo được động cơ, động lực thúc đẩy đối tượng quản lý thực hiện tốt các nhiệm vụ. Vì vậy, chúng ta có thể hiểu khái niệm biện pháp quản lý là những định hướng quan điểm cho công tác quản lý ở một lĩnh vực nào đó, nó cũng là cách thức, con đường, cách làm cụ thể nhằm đạt hiệu quả cao nhất của quá trình quản lý nhằm tiết kiệm thời gian và vật lực của các thành phần tham gia quản lý. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Phương pháp quản lý Các phương pháp quản lý là tổng thể các cách thức tác động có thể có và có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý để đạt được mục tiêu đề ra. Phương pháp quản lý có đặc trưng cơ bản là luôn luôn tác động lên con người. Ở mỗi đối tượng quản lý, trong tình huống khác nhau đều có thể xác định rõ ràng các mối quan hệ giữa từng cá nhân và tập thể với một môi trường xác định. Các mối quan hệ này vô cùng phong phú, phức tạp và luôn biến động, chịu ảnh hưởng thường xuyên trực tiếp của môi trường xung quanh.
Do vậy, nguyên tắc quản lý càng ổn định tương đối, không được phép luôn luôn thay đổi và rất cần thiết phải cân nhắc lựa chọn. Với một mục tiêu của hệ thống trong từng điều kiện hoàn cảnh, không gian và thời gian, bao giờ cũng xuất hiện một hệ thống đồng bộ các giải pháp hợp lý đem lại hiệu quả cao nhất. Vì vậy, trong quản lý phải hình thành và lựa chọn được một cơ chế quản lý thích hợp để đạt hiệu quả cao. Nghệ thuật quản lý chính là cái biết làm như thế nào để đạt kết quả tốt nhất với một hệ thống trong một điều kiện, hoàn cảnh nhất định.