Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THEO NĂNG LỰC Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các công trình nghiên cứu về đánh giá kết quả học tập Đánh giá KQHT của HS được các tác giả nghiên cứu ở nhiều góc độ khác có mạnh ý nghĩa và tầm quan trọng của kiểm đánh giá KQHT đó là tạo động lực cho việc dạy và học phát triển. Các công trình nghiên cứu đề cập đến các bước xây dựng hoàn thiện cơ sở lý thuyết cơ sở thực tiễn và quy trình cho đánh giá KQHT của người học và những nội dung đòi hỏi tích hợp kiến thức đồng môn, liên môn, sáng tạo, liên hệ thực tiễn.
Trong vài chục năm gần đây, các nhà khao học giáo dục Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về hệ thống lý luận dạy học, lý luận giáo dục, về hệ thống QLGD, quản lý nhà trường, quản lý chất lượng GD… trong đó có nhiều công trình nghiên cứu, xây dựng cơ sở lý luận về hoạt động KT, ĐG kết quả học tập. Hoàng Đức Nhuận, Lê Đức Phúc (1995) [40] nêu ra các khái niệm, thuật ngữ về đánh giá giáo dục cũng như nội dung và kỹ thuật đánh giá kết quả học tập. Các tác giả cho rằng đánh giá kết quả học tập sẽ có 2 cách, đó là đánh giá theo tiêu chí và đánh giá theo chuẩn. Nguyễn Thị Lan Phương, Dương Văn Hưng, Nguyễn Đức Minh và Nguyễn Lê Thạch (2011) [44] với chuyên khảo “đánh giá kết quả học tập của học sinh phổ thông Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” đã cung cấp các khái niệm chung về Đánh giá kết quả giáo dục, các phương pháp đánh giá trên lớp học, trên diện rộng, thi tốt nghiệp phổ thông.
8 Trần Bá Hoành trong “đánh giá trong giáo dục” [22] cho rằng đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc. đánh giá là một mắt xích trọng yếu trong quá trình dạy học. Nó không chỉ dừng lại ở việc giải thích thông tin về trình độ kiến thức, kỹ năng hoặc thái độ của học sinh mà còn gợi ra những định hướng "bổ khuyết sai sót hoặc phát huy kết quả”. Đánh giá trong giáo dục hiện đại không chỉ từ một phía giáo viên mà còn phát huy cả vai trò của người học.
Để điều chỉnh hoạt động học tập một cách có hiệu quả thì việc thu nhận thông tin và phản hồi ngược từ phía người học là căn cứ rất cơ bản. Trần Thị Tuyết Oanh [42] khẳng định đánh giá kết quả học tập có vai trò quan trọng không thể thiếu của quá trình dạy học. đánh giá kết quả học tập không phải là một phần độc lập với bài giảng, là một hoạt động đòi hỏi có sự phối hợp các lực lượng cùng tham gia như nhà quản lý, giáo viên, học sinh. Tác giả Nguyễn Tuyết Nga nhấn mạnh vai trò của kiểm tra đánh giá đối với quá trình dạy và cho thấy đánh giá là thành tố không thể thiếu đối với việc hình thành năng lực của người học [38].
Tác giả Trịnh Khắc Thẩm khẳng định đánh giá là được coi là khâu chủ chốt trong nâng cao chất lượng dạy và học [48]. Lê Đức Ngọc [39] đã mô tả các công cụ đánh giá kết quả học tập như các phương pháp đo lường, các loại câu hỏi trắc nghiệm. Lưu Bản Cố [12], Đoàn Thị Cúc [13], Đặng Bá Lãm [31] giới thiệu quy trình xây dựng đề kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh phổ thông. Trần Thị 9 Tuyết Oanh [42] giới thiệu ba hình thức đánh giá cơ bản thường được các nhà trường sử dụng trong quá trình dạy học hiện nay là: đánh giá thường xuyên, đánh giá định kỳ và đánh giá tổng kết.
Tác giả đã mô tả, chỉ ra ưu điểm, hạn chế và yêu cầu đối các phương pháp đánh giá kết quả học tập. Dương Văn Hưng [25] với đề tài “ Nghiên cứu phương pháp, kỹ thuật đánh giá thường xuyên kết quả học tập của học sinh tiểu học theo chương trình giáo duc” ̣ đã đưa ra những số liệu khảo sát thực trạng đánh giá thường xuyên của học sinh tiểu học, đưa ra những khuyến nghị, đề xuất về kỹ thuật đánh giá thường xuyên kết quả học tập của học sinh tiểu học. Trong “Thực trạng việc đánh giá kết quả học tập của học sinh tiểu học bằng hình thức nhận xét”, Nguyễn Tuyết Nga [38] đề cập tới thực trạng sử dụng nhận xét trong đánh giá của học sinh môn Đạo đức, TN&XH, Âm nhạc, Mĩ thuật, Thủ công và Thể dục ở các lớp 1, 2, 3. Nguyễn Thị Hạnh [18] đã nêu ra những quan điểm mới về việc đánh giá kết quả học tập và thực trạng của việc đánh giá kết quả học tập môn tiếng Việt cấp tiểu học.
Nội dung, loại hình, công cụ đánh giá và hướng dẫn biên soạn trong môn tiếng Việt ở cấp tiểu học, cùng một số đề kiểm tra viết tham khảo. Các công trình nghiên cứu về đánh giá kết quả học tập của học sinh tiểu học theo năng lực Theo Nguyễn Thành Ngọc Bảo [5], đánh giá năng lực học sinh “chính là đánh giá khả năng vận dụng, thực hiện các nhiệm vụ cụ thể, thực tế và phát triển tư duy bậc cao (phân tích, tổng hợp, đánh giá) của học sinh chứ không dừng lại ở mức độ đánh giá phân hoá riêng rẽ các phương diện kiến thức, kỹ năng, thái độ không chỉ là đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ học tập của học sinh mà phải hướng tới việc đánh giá khả năng vận dụng kiến 10 thức, kỹ năng và thái độ của học sinh để thực hiện nhiệm vụ học tập theo một chuẩn nhất định. Do vậy, đánh giá nhằm phát triển năng lực học sinh chủ yếu là đánh giá dựa trên hoạt động thực hiện và áp dụng kiến thức vào thực tế của học sinh”. Tác giả Dương Thu Mai [35] đề cập đến các phương pháp chính để đánh giá nhằm phát triển năng lực học sinh như phương pháp quan sát, phương pháp phỏng vấn sâu và thảo luận với học sinh, nhật ký người học, bài thu hoạch học tập hàng ngày, báo cáo thường kỳ, đánh giá thực hành, hồ sơ học tập, tự đánh giá và đánh giá đồng cấp.
Bên cạnh đó tác giả cũng nêu những khó khăn và biện pháp khi áp dụng các phương pháp đánh giá này ở Việt Nam. Nguyễn Thu Hà [16] cho rằng phương pháp đánh giá đóng góp rất lớn vào hiệu quả đánh giá nhằm phát triển năng lực học sinh. Giáo viên phải đánh giá bằng nhiều hình thức và thông qua nhiều công cụ, phương pháp đánh giá thì mới đạt được hiệu quả. Các chương trình giảng dạy và các phương pháp đánh giá cũng phải kết hợp đánh giá được các yếu tố như khả năng sử dụng kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ để giải quyết vấn đề trong những bối cảnh cụ thể thì mới đánh giá được năng lực học sinh.
Các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh theo năng lực Trần. quan, chính. Các khái niệm cơ bản 1. “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”.
“Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực trong và ngoài tổ chức một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với mục đích cao nhất”. Quản lý là quá trình chủ thể quản lý lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và, giám sát, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ của các khách thể quản lý trong tổ chức nhằm đạt được muc̣ tiêu đã đề ra của tổ chức. Đánh giá kết quả học tập của học sinh Trong. nghĩa:“ Đánh giá là đoán định về giá trị”.
Đánh giá là quá trình thu thập và xử lí, thông tin một cách có hệ thống nhằm xác định mục tiêu đã và đang đạt được ở mức độ nào. Hoặc đánh giá là quá trình thu thập và xử lí thông tin để đưa ra quyết định. Đánh giá là một quá trình có hệ thống bao gồm việc thu thập, phân tích, giải thích thông tin nhằm xác định mức độ người học đạt được các mục tiêu giáo dục. “Kết quả dạy học là những trình độ phát triển mới trong nhân cách người học đạt được sau mỗi quá trình dạy học.
Trình độ phát triển mới là tri thức mới, thái độ mới của người học đạt được trong quá trình học tập”. “Kết quả học tập là mức độ kiến thức kỹ năng hay nhận thức của người học trong một lĩnh vực một môn học nào đó”. Kết quả học tập là mức độ kiến thức, kỹ năng, thái độ của người học trong một lĩnh vực một môn học nào đó. đánh giá kết quả học tập của học sinh là quá trình thu thập, phân tích và lý giải thông tin một cách có hệ thống để mô tả thực trạng kiến thức, kỹ năng, thái độ của học sinh đạt được trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường, đối chiếu vơí muc̣ tiêu giáo duc̣ đã được đặt ra nhằm đưa ra kết luận về mức độ năng lực học sinh đạt được so vơí muc̣ 17 tiêu giáo duc̣ và những nhận xét để giúp học sinh có thể cải thiện thành tích.
Năng lực Năng. “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tông ̉ hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”. Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh theo năng lực ở các trường tiểu học Hoạt.