MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong những năm vừa qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có một loạt các sáng kiến nhằm thực hiện đổi mới GD, trong đó có sáng kiến triển khai thử nghiệm mô hình "Trường học mới Việt Nam" (viết tắt là VNEN). Mô hình này là sự học tập và kế thừa mô hình Trường học mới được Ngân hàng Thế giới và UNESSCO hỗ trợ cùng với các chuyên gia GD hàng đầu thế giới thiết kế cho các nước đang phát triển và được triển khai thành công ở nhiều nước, trong đó có Cộng hòa Colombia. Trong quá trình triển khai mô hình VNEN, các nước đã có rất nhiều sáng tạo, nhiều cách làm hiệu quả và phù hợp với điều kiện của đất nước mình.
Trong bối cảnh đó, mô hình VNEN được triển khai ở Việt Nam theo quan điểm: lựa chọn nội dung phù hợp, những cách làm sáng tạo của các nước, kế thừa những thành quả đã đạt được của Việt Nam để vận dụng mô hình phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam, đồng thời cũng đảm bảo những nguyên lí, quy luật nhận thức và những thành tựu khoa học GD tiên tiến trên thế giới, hướng tới mục tiêu chung là hình thành và phát triển năng lực cho HS. Quá trình nghiên cứu và thực nghiệm mô hình VNEN đã phát triển nhanh về số lượng các trường và các khối lớp tham gia: - Năm học 2011-2012, Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai mô hình VNEN đối với cấp tiểu học. - Năm học 2014-2015 đã có 1447 trường tiểu học trên phạm vi toàn quốc thực hiện dạy học theo VNEN. Đồng thời Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo 6 tỉnh triển khai thực nghiệm thành công mô hình ở 48 lớp 6 của 24 trường trung học cơ sở.
- Năm học 2015-2016, có 4177 trường tiểu học triển khai áp dụng mô hình VNEN; hơn 1700 trường trung học cơ sở đăng kí tham gia triển khai mô hình VNEN đối với lớp 6. Một mô hình GD mới ở Việt Nam, đã thực hiện thành công ở nhiều quốc gia trên thế giới, với sự chuyển đổi chính yếu về mặt sư phạm từ mô hình giáo dục truyền 1 z thống sang mô hình giáo dục tiếp cận phát triển năng lực cho HS; nhưng qua quá trình thực hiện còn nảy sinh nhiều ý kiến trái chiều xoay quanh mô hình này. Không thể phủ nhận những đóng góp nhất định của mô hình VNEN đối với quá trình đổi mới GD trong thời gian vừa qua. Song hành cùng những thành tựu đạt được là những hiện tượng liên quan đến hạn chế và yếu kém được phản ánh ngày càng nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng, tạo nên những bức xúc có chiều hướng ngày càng tăng trong công luận, đặc biệt là ở một số tỉnh thành ở nước ta, trong đó có tỉnh Nghệ An.
Trong những năm qua, NL GQVĐ đã đưa ra một vị trí quan trọng trong chương trình giảng dạy của nhiều hệ thống GD; đóng vai trò là một trong các NL chung, cốt lõi ở Chương trình GD phổ thông tại hầu hết các quốc gia, trong đó có Chương trình GD phổ thông mới của Việt Nam sẽ triển khai ở giai đoạn sắp tới; nó cũng được ĐG trong các kỳ ĐG diện rộng quốc gia, quốc tế, và đang là tâm điểm nghiên cứu của nhiều tổ chức quốc tế. Đồng thời, mô hình VNEN cũng chú trọng đến việc phát triển NL này như là một xu thế tất yếu để giúp người học thành công trong học tập và cuộc sống. Từ thực trạng khái quát ở trên, có thể thấy rõ nền GD của chúng ta đang gặp một số khó khăn trước những yêu cầu mới và sẽ có nhiều vấn đề phải giải quyết trong quá trình thực hiện đề án đổi mới giáo dục và đào tạo. Việc giải quyết bài toán về một mô hình GD đã thực hiện trong nhiều năm qua có thể vẫn chưa phải là tầm của công cuộc đổi mới lần này; tuy nhiên đề tài mong muốn góp một phần nào đó, bao gồm những phân tích phù hợp về lý luận và thực tiễn kết quả học tập của HS học theo mô hình VNEN, cụ thể hơn là NL GQVĐ, để từ đó có thể đưa ra một số khuyến nghị cụ thể góp phần nâng cao hiệu quả triển khai mô hình này vào GD Việt Nam trong giai đoạn tới, đóng góp chung vào công cuộc đổi mới của GD nước nhà và củng cố lòng tin vào hệ thống GD và tương lai của dân tộc Việt Nam.
Mục đích nghiên cứu Đề tài nhằm mục đích ĐG kết quả học tập (NL GQVĐ) của HS học theo mô hình VNEN tại 1 số trường tiểu học trên địa bàn tỉnh Nghệ An, từ đó đưa ra một số 2 z khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập NL GQVĐ cho HS tiểu học trong giai đoạn tới, khi Chương trình giáo dục phổ thông mới được triển khai trên diện rộng. Câu hỏi nghiên cứu Từ mục đích nghiên cứu, đề tài đã đặt ra hai câu hỏi nghiên cứu là: - Các mức độ phát triển NL GQVĐ của HS tiểu học học theo mô hình VNEN là gì? - Việc thể hiện NL GQVĐ của đa số HS tiểu học học theo mô hình VNEN đạt được ở mức độ nào của đường phát triển NL GQVĐ? 4. Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp phân tích tài liệu: nghiên cứu cơ sở lý luận về các khái niệm, đặc điểm liên quan đến mô hình VNEN và NL GQVĐ; tổng quan các nghiên cứu liên quan đến cấu trúc và ĐG NL GQVĐ; - Phương pháp thực nghiệm khoa học: nghiên cứu về thực trạng NL GQVĐ của HS ở một số trường tiểu học trên địa bàn tỉnh Nghệ An thông qua bộ công cụ đo lường NL GQVĐ đã được chuẩn hóa. Phạm vi nghiên cứu - Về phạm vi không gian, đề tài tập trung nghiên cứu về kết quả học tập (NL GDVĐ) của HS khối lớp 5 học theo mô hình VNEN của 3 trường tiểu học trên địa bàn tỉnh Nghệ An; - Về phạm vi thời gian, đề tài nghiên cứu được thực hiện trong thời gian khoảng 13 tháng, từ tháng 12 năm 2018 đến tháng 12 năm 2019.
Khách thể và đối tượng nghiên cứu - Khách thể nghiên cứu: 5 lớp 5 của 3 trường tiểu học của tỉnh Nghệ An; - Đối tượng nghiên cứu: NL GQVĐ của HS tiểu học học theo mô hình VNEN (nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Nghệ An). CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 1. Khái quát hóa về mô hình VNEN Trong khoảng từ 10 năm đầu của thế kỉ XXI đến nay, giáo dục Việt Nam đã được triển khai nhiều dự án giáo dục như dự án giáo viên tiểu học, dự án giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, dự án Việt Bỉ, dự án của Jica, dự án Mô hình trường học mới tại Việt Nam (GPE-VNEN),… Các dự án này đều nhằm giúp giáo dục Việt Nam làm quen với các phương pháp dạy học tích cực lấy HS làm trung tâm và phần nào nâng cao chất lượng giáo viên. Trong đó duy nhất dự án GPE-VNEN đã tiếp cận đến sự thay đổi toàn diện nhà trường, một mô hình sư phạm theo hướng tiếp cận hiện đại – mô hình VNEN.
Theo Đặng Tự Ân (2015), mô hình VNEN được hình thành và phát triển từ mô hình Mô hình Escuela Nueva (viết tắt là EN) của đất nước Cô-lôm-bia. Mô hình EN đã được phát triển ở đất nước này từ những năm 70-80 của thế kỉ trước. EN là kết quả sự hợp tác GD của nhiều chuyên gia và các nhà thực tiễn GD từ Mĩ, Anh, Canada, Ốt-xtrây-lia, Tây Ban Nha, Mĩ La Tinh,… Mô hình EN đã có sức hấp dẫn và lan tỏa nhanh chóng ở nhiều nước vùng Ca-ri-bê và khắp các nước châu Mĩ La tinh. Năm 2000, Liên hợp quốc đã chọn mô hình EN là một trong ba cải cách đáng chú ý nhất của Cô-lôm-bia và được UNESCO coi là mô hình nhà trường có chất lượng tốt nhất về GD tiểu học ở các vùng nông thôn của châu Mĩ La tinh.
Tới năm cuối năm 2009 đầu năm 2010, mô hình EN bắt đầu được nghiên cứu và năm học 2011-2012 đưa vào vận dụng ở Việt Nam với tên gọi mô hình VNEN. Mô hình VNEN là sự tích hợp mạnh mẽ giữa những yếu tố tích cực của mô hình EN với thành tựu GD nhiều năm đổi mới ở Việt nam để trở thành mô hình nhà trường mới của Việt Nam. Cũng theo Đặng Tự Ân (2016), mô hình VNEN được xây dựng dựa trên quan điểm và lí luận GD hiện đại và kết hợp hài hòa với thực tiễn của GD Việt Nam. Trong mỗi giai đoạn thay đổi, phát triển của một nền GD đều bị chi phối bởi triết lí GD, đó là một hệ thống lí thuyết để định hướng GD con người ở mỗi thời kì, mỗi hoàn cảnh.
Triết lí của mô hình VNEN nằm trong bối cảnh của sự hiểu biết về triết lí GD phổ 4 z thông, triết lí của người học, người dạy và nhà quản lí GD, triết lí của nội dung và phương pháp GD. Nội dung triết lí được nêu ra trong cuốn “Mô hình trường học mới Việt Nam nhìn từ góc độ thực tiễn và lí luận” là sự tổng hợp các yếu tố mang tính bản chất của mô hình cùng với định hướng phát triển của mô hình. Theo tác giả, nội dung này có khả năng chi phối tất cả hoạt động của mô hình VNEN. Triết lí của mô hình VNEN được thể hiện qua những nội dung có ý nghĩa bản chất của các yếu tố sau: a) Chiến lược của mô hình VNEN Quan điểm lấy HS làm trung tâm trong quá trình hoạt động học tập là trụ cột và giá đỡ của mô hình VNEN.
Đây là tư tưởng GD hiện đại được sự đồng thuận của cộng đồng GD thế giới. Mặt khác, khi đã coi HS là chủ thể, là trung tâm trong quá trình học tập thì nó sẽ có tác động chi phối tới các hoạt động của mô hình VNEN. b) Các chủ thể của mô hình VNEN Các chủ thể trong mô hình VNEN là HS, GV và gia đình (cộng đồng). Các chủ thể này luôn gắn kết và tương tác hai chiều với nhau.
Các chủ thể nêu trên thực chất là trường hợp riêng của ba tác nhân Người học – Người dạy – Môi trường nổi tiếng được Jean-Mare Denommé và Madeleine Roy đề cập tới trong phương pháp sư phạm tương tác. Ở đó, các nhà nghiên cứu cho rằng quá trình dạy học là sự tương tác lẫn nhau giữa 3 yếu tố (xem Hình 1.