CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG GIÁO DỤC THEO TIÊU CHUẨN ĐGCLGD 1. Tổ q a lịc sử i cứ vấ đề Mọi tổ chức muốn phát triển bền vững, các nhà hoạch định, quản lý cần phải quan tâm, chú trọng đến chất lượng sản phẩm, chất lượng hoạt động của tổ chức mình. Nhưng chất lượng không tự nhiên sinh ra, mà là kết quả tác động của hàng loạt yếu tố và quá trình có liên quan. Muốn đạt được chất lượng mong muốn với các mục tiêu đáp ứng đánh giá từ bên ngoài hay theo nhu cầu tự thân của một tổ chức, cần phải quản lý các yếu tố của quá trình này.
Toàn bộ hoạt động có kế hoạch và hệ thống, được tiến hành trong hệ thống quản lý đã được chứng minh là đủ mức cần thiết để tạo sự tin tưởng rằng đối tượng sẽ thỏa mãn đầy đủ các yêu cầu chất lượng được hiểu là hoạt động đảm bảo chất lượng. ó nhiều định nghĩa khác nhau của các chuyên gia về quản lý chất lượng, song cho dù đề cập đến khái niệm quản lý chất lượng từ góc độ nào, các nhà nghiên cứu cũng thống nhất ở một điểm chung đó là: Thiết lập chuẩn, đối chiếu thực trạng so với chuẩn và có các biện pháp nâng thực trạng ngang chuẩn. ảm bảo chất lượng là một mô hình quản lý chất lượng ở mức cao hơn so với mô hình kiểm soát chất lượng. Mô hình quản lý này đã khắc phục được những hạn chế của mô hình quản lý trước đó là đưa hệ thống thiết kế vào quản lý chất lượng ngay từ đầu, nhấn mạnh tới đảm bảo chất lượng chứ không phải phát hiện và loại bỏ những sản phẩm không đáp ứng yêu cầu.
Do đó, B L là chiến lược ngăn ngừa việc sản xuất ra những phế phẩm. Về B LGD, ở nhiều nước phát triển trên thế giới và trong khu vực như oa kỳ, anađa, Nhật bản, àn Quốc, Anh, Trung quốc, Xinh ga po từ lâu họ đã rất chú trọng đến quản lý đảm bảo chất lượng theo bộ chuẩn đánh giá chất lượng dạy và học của các nhà trường, được công bố rộng rãi và thế giới thừa nhận. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở Việt Nam, cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu và đề cập đến quản lý hoạt động đảm bảo chất lượng giáo dục như GS.TS Nguyễn ức hính với tác phẩm “Kiểm định chất lượng giáo dục đại học”[11], GS.TS Nguyễn ữu hâu với “ ơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng giáo dục và đánh giá chất lượng giáo dục” [15].và gần đây nhất là công trình nghiên cứu của tác giả Trần trọng à với đề tài “Quản lý hoạt động B L theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường T PT tại Trường Trung học phổ thông Yên òa” [17], hay công trình nghiên cứu của tác giả Trần Xuân Kiều với đề tài "Quản lý hoạt động đảm bảo chất lượng giáo dục tại trường SP Nam ịnh [19].Mỗi công trình nghiên cứu đã giúp cho từng cấp học, bậc học có cơ hội tiếp cận cách quản lý mới theo bộ tiêu chuẩn do Bộ GD& T đã ban hành, tuy nhiên việc triển khai quản lý hoạt động B LGD theo tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường tiểu học chưa chú trọng, chưa thực sự được nghiên cứu một cách có hệ thống và triệt để. Trên thế giới có hơn 150 nước có hệ thống quốc gia B LGD và K LGD.
Những nước có hệ thống B LGD và K LGD lâu đời như Mỹ, Anh. Những nước trong khu vực hâu Á - Thái Bình Dương (ví dụ: Thái Lan, Malaysia, ampuchia…) cũng đã có các tổ chức đảm bảo chất lượng quốc gia và có hệ thống chân rết đến từng cơ sở giáo dục. ác tổ chức này rất khác nhau. Một xu thế chung là các quốc gia ngày một quan tâm nhiều hơn đến hệ thống B LGD và đứng ra thành lập các tổ chức đảm bảo chất lượng quốc gia.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Sự p â bố các tổ c ức ĐBCL q ốc ia ở tr t ế iới ối với nước ta, hệ thống B LGD và K LGD thực sự được quan tâm từ đầu năm 2002 bằng việc hình thành một đơn vị chuyên trách về vấn đề này trong Vụ ại học, của Bộ GD& T sau đó tách ra thành lập ục Khảo thí và K LGD, thuộc Bộ GD& T. iện nay hầu hết các trường chuyên nghiệp đều có phòng hoặc trung tâm khảo thí-đảm bảo LGD; 100% các Sở giáo dục và đào tạo có phòng Khảo thí và Kiểm định LGD; có thể khẳng định, hệ thống đảm bảo chất lượng và K LGD của Việt Nam liên tục được củng cố và phát triển theo xu thế chung của quốc tế. Tương tự như nhiều nước khác, việc xây dựng một hệ thống đảm bảo và K LGD ở cấp quốc gia có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc duy trì các chuẩn mực và không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục ở Việt Nam.
ối với các SGD, đảm bảo sẽ tổ chức giáo dục, đào tạo có chất lượng và có hiệu quả tương xứng với các điều kiện hiện có của nhà trường, đảm bảo học sinh, sinh viên khi tốt nghiệp sẽ đáp ứng yêu cầu của xã hội, của thị trường lao động. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỘI ĐỒNG QUỐC GIA KĐCLGD CỤC KHẢO THÍ VÀ KĐCLGD CÁC TRƯỜNG CĐ, CÁC TRƯỜNG CÁC TRƯỜNG ĐH TCCN PHỔ THÔNG Hì 1. Mô ì ĐBCLGD ở Việt Nam đã triể k ai 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ối với Nhà nước, trước hết hệ thống này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn thực trạng giáo dục trong cả nước, đồng thời đảm bảo quyền lợi cho người học; đảm bảo rằng hệ thống giáo dục sẽ cung cấp được một lực lượng lao động có năng lực cần thiết để đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. ệ thống B LGD và K LGD cũng sẽ cung cấp các cơ sở để Nhà nước đưa ra các chính sách đầu tư hiệu quả cho hệ thống giáo dục.
Trong quá trình tiếp cận với nhiều mô hình B LGD và K LGD trên thế giới, mô hình B LGD của Việt Nam đang từng bước được ổn định, phù hợp với các mô hình đảm bảo chất lượng của nhiều nước khác, nhất là mô hình của châu Âu, châu Á - Thái Bình Dương, AUN. Mô hình B LGD của Việt Nam có 3 cấu phần: - ệ thống đảm bảo chất lượng bên trong của nhà trường; - ệ thống đảm bảo chất lượng bên ngoài nhà trường (hệ thống đánh giá ngoài bao gồm các chủ trương, quy trình và công cụ đánh giá); - ệ thống các tổ chức đánh giá chất lượng từ bên ngoài (các tổ chức K LGD ). BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỘI ĐỒNG QUỐC GIA KĐCLGD CỤC KHẢO THÍ VÀ KĐCLGD TỔ CHỨC TỔ CHỨC KĐ TỔ CHỨC KĐCLGD ĐỘC LẬP CLGD ĐỘC LẬP KĐCLGD ĐỘC LẬP CÁC TRƯỜNG CÁC TRƯỜNG CÁC TRƯỜNG CĐ, ĐH TCCN PHỔ THÔNG Hì 1. Mô ì ĐBCLGD ở Việt Nam đa triể k ai 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ó thể nói, sự hình thành và phát triển hệ thống B LGD và K LGD cùng với việc ra đời của bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng các cơ sở giáo dục như một bước ngoặt quan trọng trong hoạt động đánh giá cũng như B LGD của Việt Nam.
Lần đầu tiên trong lịch sử giáo dục của đất nước, Việt Nam đã có được một bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng rõ ràng, minh bạch, cơ bản xác định được các yêu cầu về chất lượng liên quan đến sứ mạng, mục tiêu, cơ cấu, điều kiện nguồn lực và các mặt hoạt động của một cơ sở giáo dục. Quản lý Khái niệm quản lý được phát biểu dưới hiều hình thức, nội dung khác nhau xuất phát từ các góc nhìn khác nhau về quản lý. ối với các nhà lý luận quản lý quốc tế kinh điển như: Frederich Wiliam Taylor (1856 – 1915), Mỹ; Henri Fayol (1841 – 1925), Pháp; Max Weber (1864 – 19200, ức; … thì đều cho rằng quản lý là khoa học và là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội. Với lý luận của Mác lại cho rằng: “Một người độc tấu vĩ cầm thì tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải nhạc trưởng”.
Một số tác giả Việt Nam như Nguyễn oàng Toàn, ồ Văn Vĩnh, Phạm Minh ạc, ặng Quốc Bảo, Nguyễn Duy Quí, Bùi Trọng Tuân, … cũng đưa ra những khái niệm về quản lý …. Theo giáo trình Khoa học quản lý, Tập 1. Nxb Khoa học kỹ thuật. à Nội, 1999 đã ghi rõ: “Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác.
Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức. Quản lý là một họat động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực các nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tuy nhiên có một định nghĩa mà được nhiều người ghi nhận nhất là: Quản lý là quá trình tác động có chủ đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý và đối tượng quản lý thông qua các biện pháp quản lý để đạt mục tiêu quản lý. Quản lý truyền thống có 4 chức năng: hức năng kế hoạch hóa; chức năng tổ chức thực hiện; chức năng lãnh đạo, chỉ đạo và chức năng kiểm tra đánh giá.
Dù quản lý được định nghĩa theo nhiều các khác nhau như vậy, nhưng các định nghĩa đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản và bao gồm các yếu tố sau: + Chủ thể quản lý: ó thể là cá nhân hoặc nhiều người đóng vai trò là tác nhân tạo ra các tác động, là trung tâm thực hiện những hoạt động tổ chức, khai thác, những tác động hướng đích, có chủ định đến đối tượng quản lý. + Đối tượng quản lý: ó thể là một người hoặc nhiều người trong tổ chức và các yếu tố được sử dụng làm nguồn lực của tổ chức. ối tượng quản lý chịu sự tác động của chủ thể quản lý. + Công cụ quản lý: là phương tiện, giải pháp của chủ thể quản lý được sử dụng để định hướng, dẫn dắt, khích lệ, phối hợp các hoạt động của con người và các bộ phận trong một tổ chức trong việc thực hiện mục tiêu đề ra.
Như vậy, công cụ quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc xác lập phương thức hoạt động cho hoạt động quản lý.