Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG CỘNG ĐỒNG THAM GIA XÂY DỰNG TRƢỜNG TIỂU HỌC ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA 1. Sơ lƣợc tổng quan nghiên cứu vấn đề Giáo dục là một hiện tượng đặc biệt của xã hội loài người. Nó đảm bảo sự tồn tại, phát triển bền vững của loài người qua các thế hệ. Chăm lo cho sự tồn tại và phát triển của GD luôn là vấn đề được tất cả các nước trên thế giới quan tâm, đầu tư.
Đối với nhiều nước trên thế giới và ở Việt Nam, chất lượng giáo dục luôn là vấn đề được quan tâm hàng đầu. Cải cách giáo dục và quản lý giáo dục thường có khuynh hướng chuẩn hóa hoặc dựa vào chuẩn. Vấn đề cải cách giáo dục không phải bây giờ mới được đặt ra. Trong lịch sử có nhiều nhân sĩ đã từng đưa ra những cuộc cải cách giáo dục, trong đó phải kể đến Nguyễn Trường Tộ.
Ông đã có những bản điều trần gửi lên triều đình yêu cầu cải cách giáo dục, coi đó là điều kiện cần thiết để đưa đất nước khỏi nạn ngoại xâm. Đến đầu thế kỷ XX, một phong trào cải cách giáo dục rầm rộ khắp cả nước do các chí sĩ duy tân tiến hành mà đỉnh cao là Đông Kinh nghĩa thục. Có thể nói đó là một cuộc cải cách tận gốc về giáo dục từ mục đích, chương trình giảng dạy, tài liệu giảng dạy và đội ngũ giáo viên. Tuy nhiên thực dân Pháp đã sớm thấy nguy cơ phát triển của Đông Kinh nghĩa thục và những mầm mống cách mạng của nó nên đã thẳng tay đàn áp.
Trường học bị đóng cửa, những người sáng lập hầu hết bị đày ra Côn Đảo. Kể từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành sắc lệnh 146/SL ngày 10/8/1946, trong đó chỉ rõ: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” và xác định các nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục nước ta là “Đại chúng hóa, dân tộc hóa, khoa học hóa và tôn chỉ phụng sự lý tưởng quốc gia và dân chủ”[20]. Vì vậy, ngay từ khi mới giành độc lập, Đảng và Nhà nước ta đã bắt tay ngay vào cải tạo và xây dựng nền giáo dục quốc dân. Vào tháng 9 năm 1946, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị về nhiệm vụ công tác giáo dục ở miền núi: “Thầy tìm trò, trường gần dân, quy mô nhỏ, nhà nước và nhân dân cùng phối hợp quyết tâm mở rộng cánh cửa của nhà trường xã hội chủ nghĩa cho các dân tộc”[20].
Vào tháng 7 năm 1950, Hội đồng Chính phủ thông qua đề án cải cách giáo dục lần thứ nhất, trong đó nêu rõ “Tính chất của nền giáo dục mới của ta là một nền giáo dục của dân, do dân và vì dân, được xây dựng trên nguyên tắc khoa học và đại chúng”[20]. Vào tháng 1 năm 1979, Bộ Chính trị Ban hành Nghị quyết số 14- NQ/TW về cải cách giáo dục và xác định phương châm: “Phối hợp những cố gắng đầu tư của nhà nước với sự đóng góp của nhân dân, của các ngành, các cơ sở sản xuất và sức lao động của thầy trò trong việc xây dựng trường sở, phòng thí nghiệm, xưởng trường, vườn trường”[20]. Nghị quyết Hội nghị lần 2 Ban chấp hành TW khoá VIII đã khẳng định: “Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân. Mọi người đi học, học thường xuyên, học suốt đời.
Phê phán thói lười học. Mọi người chăm lo giáo dục”[13]. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ rõ: “Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”[15]. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đã khẳng định: “Giáo dục và Đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, đồng thời chỉ rõ: “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ 2 chế quản lý, nội dung, phương pháp dạy và học; thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa”[27].
Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI cũng đã xác định phương hướng phát triển GD&ĐT trong giai đoạn 2011 - 2015 là: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa; đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học; đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục, đào tạo”, đồng thời chỉ rõ: “Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội; xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời”[42]. Hệ thống quan điểm của Đảng và các chính sách của Nhà nước ta về thực hiện “Chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa” thực chất là khẳng định tư tưởng chiến lược của Đảng trong quá trình phát triển giáo dục nhằm chấn hưng nền giáo dục Việt Nam. Trong những năm gần đây, việc xây dựng trường TH đạt CQG đã được tiến hành và đã đạt được những kết quả khả quan. Có rất nhiều nghiên cứu về giáo dục, tuy nhiên nghiên cứu về vấn đề xây dựng trường chuẩn Quốc gia là đề tài còn chưa được quan tâm nhiều.
Chúng ta có thể đề cập đến một số công trình như: - Công trình nghiên cứu khoa học: “Xây dựng trường Trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2001-2010” của tác giả Hà Thế Truyền trên Tạp chí Giáo dục (Học viện Quản lý Giáo dục), đã tập trung làm rõ mục tiêu, một số kết quả xây dựng trường chuẩn quốc gia và giải pháp thực hiện. Theo tác giả, đây là một chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước nhằm từng bước xây dựng nhà trường theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa; từng bước đưa các hoạt động giáo dục toàn diện của nhà trường đi vào kỷ cương, nền nếp, nâng cao chất lượng dạy và học. Để thực hiện mục tiêu trên, ngoài việc làm tốt công tác tuyên truyền phổ biến sâu rộng trong toàn ngành và xã hội về công tác xây dựng trường chuẩn Quốc gia, mỗi địa phương phải xây dựng đề án cụ thể trình cấp ủy Đảng, chính quyền; làm 3 cho công tác này trở thành nhiệm vụ chính trị của các cấp chính quyền; mặt khác làm tốt khâu quy hoạch đất đai và huy động các nguồn lực của xã hội đầu tư cho giáo dục; mỗi địa phương cần có kế hoạch chỉ đạo cụ thể, tập trung xây dựng một số trường chuẩn Quốc gia làm mẫu và tạo đà chung, kết hợp với chương trình kiên cố hóa trường lớp để xây dựng trường chuẩn Quốc gia, phấn đấu các trường xây mới đều theo tiêu chuẩn trường chuẩn Quốc gia. - Chuẩn Quốc gia về giáo dục phổ thông - thách thức lớn trong lí luận chương trình dạy học của giáo dục hiện đại.
Kỷ yếu Hội thảo chuẩn và chuẩn hoá trong giáo dục, đăng trên Thế giới ngày nay của tác giả Hồ Viết Lương. - Trường Tiểu học Chuẩn Quốc gia - Một khái niệm mới trong giáo dục của tác giả Trịnh Quốc Thái đăng trên Tạp chí Giáo dục. - “Thực trạng và những giải pháp xây dựng trường Tiểu học đạt chuẩn Quốc gia ở Tây Ninh”, luận án Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Ngọc Dũng. - “Những biện pháp cơ bản xây dựng đội ngũ giáo viên trường chuẩn Quốc gia THPT Xuân Đỉnh-Hà Nội”, luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Viết Cẩn, năm 2004 (Hà Nội).
- “Biện pháp quản lý việc xây dựng trường chuẩn Quốc gia của Hiệu trưởng trường THPT tỉnh Tuyên Quang”, luận văn Thạc sĩ của tác giả Đoàn Văn Ninh, năm 2006 (Tuyên Quang). - “Các biện pháp chỉ đạo của Trưởng phòng giáo dục đối với công tác xây dựng trường tiểu học đạt chuẩn Quốc gia ở huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh trong giai đoạn hiện nay”, luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thành Nguyện, năm 2006 (Trà Vinh). - “Một số biện pháp chỉ đạo của Phòng GD&ĐT trong việc xây dựng trường TH đạt chuẩn Quốc gia ở huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên”, luận văn Thạc sĩ của tác giả Vũ Thế Duy, năm 2008 (Điện Biên). Qua nghiên cứu tổng quan của đề tài chúng ta có thể nhận thấy: Vấn đề xây dựng và phát triển các nhà trường theo CQG đã được quan tâm nghiên cứu.
Tuy 4 nhiên, số lượng các công trình nghiên cứu về xây dựng nhà trường đạt CQG còn chưa nhiều, chưa tương ứng với vai trò và tầm quan trọng của vấn đề này. Chưa có công trình nào nghiên cứu về biện pháp HĐCĐ tham gia xây dựng trường TH đạt Chuẩn quốc gia ở huyện Đầm Hà, tỉnh Quảng Ninh. Một số khái niệm cơ bản 1. Cộng đồng Cộng đồng (community) được hiểu theo nghĩa chung nhất là: “một cơ thể sống/ cơ quan/ tổ chức nơi sinh sống và tương tác giữa cái này với các khác”.
Trong khái niệm này, điều đáng chú ý, được nhấn mạnh: cộng đồng là “cơ thể sống”, có sự “tương tác” của các thành viên. Dấu hiệu/ đặc điểm để phân biệt cộng đồng này với cộng đồng khác có thể là bất cứ cái gì thuộc về con người và xã hội loài người, màu da, đức tin, tôn giáo, lứa tuổi, ngôn ngữ, nhu cầu, sở thích nghề nghiệp… nhưng cũng có thể là vị trí địa lý của khu vực (địa vực), nơi sinh sống của nhóm người đó như làng xã, quận huyện, quốc gia, châu lục… Những dấu hiệu này chính là những ranh giới để phân chia cộng đồng. Tuy nhiên, các nhà khoa học, trong khái niệm này không chỉ cụ thể “cái này” với “cái khác” là cái gì, con gì. Đó có thể là các loại thực vật, cũng có thể là các loại động vật, cũng có thể là con người – cộng đồng người.
Cộng đồng là hình thức chung sống trên cơ sở sự gần gũi của các thành viên về mặt cảm xúc, hướng tới sự gắn bó đặc biệt mật thiết (gia đình, tình bạn cộng đồng yêu thương) được chính họ tìm kiếm và vì thế được con người cảm thấy có tính cội nguồn. Và cộng đồng được xem là một trong những khái niệm nền tảng nhất của xã hội học, bởi vì nó mô tả những hình thức quan hệ và quan niệm về trật tự, không xuất phát từ các tính toán lợi ích có tính riêng lẻ và được thỏa thuận theo kiểu hợp đồng mà hướng tới một sự thống nhất về tinh thần - tâm linh bao quát hơn và vì thế thường cũng có ưu thế về giá trị.