lời mở đầu, kết luận, mục lục, các danh mục bảng biểu, sơ đồ, hình vẽ, từ viết tắt, luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động kiểm định chất lƣợng giáo dục các trƣờng mầm non. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động kiểm định chất lƣợng giáo dục các trƣờng mầm non ở tỉnh Đắk Nông. Chƣơng 3: Các biện pháp quản lý hoạt động kiểm định chất lƣợng giáo dục các trƣờng mầm non ở tỉnh Đắk Nông. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM ĐỊNH CHẤT LƢỢNG GIÁO DỤC TRƢỜNG MẦM NON 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề Căn cứ Nghị Quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã xác định rõ mục tiêu của giáo dục đào tạo. Tỉnh Đắk Nông đã ban hành Quyết định số 905/QĐ-UBND ngày 19/6/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông về việc phê duyệt Đề án phát triển Giáo dục mầm non giai đoạn 2018-2025 trên địa bàn tỉnh Đắk Nông để góp phần thực hiện mục tiêu của Nghị quyết số 29- NQ/TW thì hoạt động kiểm định CLGD đƣợc chú trọng đó là đổi mới quản lý chất lƣợng giáo dục. Những nghiên cứu ở nƣớc ngoài Nhóm tác giả LazrVLSCEANU, Laura Grunberg, và Danparalea (UNESCO 2007)-Những thuật ngữ và định nghĩa cơ bản trong đảm bảo chất lƣợng và kiểm định chất lƣợng giáo dục. Nghiên cứu này đã tổng hợp một cách đầy đủ các thuật ngữ, định nghĩa chuyên dùng trong lĩnh vực kiểm định CLGD và giải thích cách sử dụng các khái niệm này một cách cụ thể thông qua các hoạt động thực tiễn trong lĩnh vực này.
Chẳng hạn, các thuật ngữ về kiểm định chất lƣợng, kiểm định cơ sở giáo dục, kiểm định chƣơng trình giáo dục…, đánh giá chất lƣợng, tự đánh giá, đánh giá ngoài đối sánh tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ số, xếp hạng hay công nhận cơ sở giáo dục đạt chuẩn mực… Cùng với việc giải thích từ ngữ, nghiên cứu cũng chỉ rõ cho ngƣời nghiên cứu cũng đã nêu lên đƣợc những tranh luận đối lập hiện nay trong việc quan niệm và sử dụng các thuật ngữ này trên thế giới[41]. Trong Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thanh Phƣợng (2005) chuyên ngành quản lý giáo dục “Xác nhận lại kiểm định chất lƣợng và nâng cao chất lƣợng giáo dục nhƣ một cuộc hành trình”: Một nghiên cứu điển hình tại đại học Texas của Mỹ. Luận án đi sâu vào nghiên cứu kiểm định chất lƣợng giáo dục của Mỹ hiện nay bao gồm: các chính sách, chủ trƣơng, cơ chế cũng nhƣ quy trình thủ tục, phƣơng 7 pháp, nội dung, chuẩn mực trong kiểm định chất lƣợng giáo dục đại học Mỹ và luận văn này tác giả đã phân tích quá trình thực hiện báo cáo tự đánh giá của nhà trƣờng là một quá trình thực hiện các hoạt động đảm bảo chất lƣợng trong nhà trƣờng đồng thời khẳng định tự đánh giá là khâu đầu tiên và quan trọng trong quá trình kiểm định[40]. Theo Phạm Xuân Thanh (2014) [35], KĐCLGD có nguồn gốc từ Hoa Kỳ và Bắc Mỹ từ hơn 100 năm nay, và hiện nay đang đƣợc nhiều nƣớc sử dụng.
Trên thế giới hiện có hơn 150 nƣớc có hệ thống quốc gia đảm bảo và KĐCLGD. Hoa Kỳ là một trong những nƣớc có hệ thống đảm bảo và KĐCLGD lâu đời và cũng là quốc gia tiên phong trong lĩnh vực KĐCLGD, ban đầu là với các trƣờng đại học. Hiện nay, ở Hoa Kỳ có 56 tổ chức kiểm định chất lƣợng độc lập, phần lớn đều do khu vực tƣ nhân hoặc hiệp hội nghề nghiệp đảm nhiệm (tính đến 2013). Nhà nƣớc Liên bang chỉ thành lập Ủy ban tƣ vấn quốc gia về chất lƣợng và liêm chính đại học (NACIQI), giao trách nhiệm công nhận, quản lý và hỗ trợ các tổ chức, trung tâm kiểm định chất lƣợng độc lập trên toàn nƣớc Mỹ.
Theo Tổ chức Bộ trưởng Giáo dục các nƣớc Đông Nam Á (SEAMEO) (2002) đã chỉ ra: Hệ thống đảm bảo chất lƣợng (ĐBCL) đào tạo bao gồm cơ cấu tổ chức, các thủ tục, các quá trình và các nguồn lực cần thiết của các cơ sở đào tạo dùng để thực hiện quản lý đồng bộ, nhằm đạt đƣợc những tiêu chuẩn, tiêu chí và các chỉ số cụ thể do nhà nƣớc ban hành, để nâng cao và liên tục cải tiến chất lƣợng đào tạo nhằm thỏa mãn yêu cầu của ngƣời học và đáp ứng nhu cầu thị trƣờng lao động. KĐCLGD nhằm góp phần đảm bảo và nâng cao chất lƣợng giáo dục; xác nhận mức độ cơ sở giáo dục đáp ứng mục tiêu đề ra trong từng giai đoạn nhất định; làm căn cứ để cơ sở giáo dục giải trình với các cơ quan quản lý nhà nƣớc có thẩm quyền và xã hội về thực trạng chất lƣợng đào tạo; làm cơ sở cho ngƣời học lựa chọn cơ sở giáo dục và nhà tuyển dụng lao động tuyển chọn nhân lực. Nhƣ vậy, trên thế giới, KĐCLGD đã có một lịch sử phát triển lâu dài ở Hoa Kỳ và Bắc Mỹ, nhƣng trƣớc đây ít đƣợc các nƣớc khác biết đến. Hiện nay KĐCLGD ngày càng trở nên phổ biến hơn, bởi nó chứng tỏ là một công cụ hữu hiệu giúp nhiều quốc gia trên thế giới duy trì các chuẩn mực chất lƣợng giáo dục và không ngừng nâng cao chất lƣợng giáo dục và đào tạo.
KĐCLGD là một trong những hoạt động đảm bảo chất lƣợng bên ngoài cơ sở đào tạo. Mục tiêu chính của KĐCLGD là nhằm đảm bảo đạt đƣợc những chuẩn mực nhất định trong đào tạo và không ngừng cải tiến, nâng cao chất lƣợng đào tạo, đáp ứng yêu cầu của ngƣời sử dụng nguồn nhân lực và đảm bảo quyền lợi cho ngƣời học. Ở một số nơi, KĐCLGD còn nhằm mục đích giải trình với xã hội, với các cơ quan quyền lực hay với các cơ quan, tổ chức tài trợ, cấp kinh phí. Ngoài ra, KĐCLGD còn nhằm đƣa ra các quyết định công nhận về mức độ tiến bộ và ĐBCLGD tại các cơ sở giáo dục… 1.
Những nghiên cứu ở trong nƣớc Ở Việt Nam vấn đề chất lƣợng và chất lƣợng giáo dục đƣợc sự quan tâm đông đảo các nhà giáo, các nhà khoa học giáo dục, đến nay có rất nhiều tác giả và xuất bản những tài liệu tham khảo về chất lƣợng giáo dục nói chung và giáo dục mầm non nói riêng nhƣ: Nguyễn Đức Chính với “Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học”; Đặng Bá Lãm “Kiểm tra và đánh giá trong dạy-học đại học”, Trần Khánh Đức “Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực” (2004), … Các tác phẩm đã phân tích kiểm định chất lƣợng cơ sở giáo dục hay kiểm định chƣơng trình giáo dục chỉ thực hiện đƣợc một cách có hiệu quả khi việc xây dựng hệ thống đảm bảo chất lƣợng trong nhà trƣờng đƣợc giải quyết. Thêm nữa, một cơ sở giáo dục bất kỳ muốn hoạt động để đạt đƣợc mục tiêu hay vƣơn tới sứ mệnh của tổ chức mình thì phải thiết kế, vận hành hệ thống đảm bảo chất lƣợng tại cơ sở giáo dục đó. Tác giả cho rằng kiểm định chất lƣợng là một khâu trong quá trình quản lý chất lƣợng và chính kiểm định chất lƣợng là phƣơng pháp là công cụ để đánh giá hệ thống đảm bảo chất lƣợng của tổ chức đó. Ngoài ra, KĐCL có quy trình từ đăng ký tự đánh giá, tự đánh giá, đánh giá ngoài và công nhận kiểm định chất lƣợng [20].
9 Lê Đức Ngọc (2009) đã cho rằng KĐCL là một giải pháp quản lý chất lƣợng và hiệu quả nhằm các mục tiêu sau đây: Đánh giá hiện trạng của cơ sở giáo dục đáp ứng các tiêu chuẩn đề ra nhƣ thế nào? Hiện trạng cơ sở giáo dục có chất lƣợng và hiệu quả ra sao? Đánh giá hiện trạng những điểm nào là điểm mạnh so với các tiêu chuẩn đề ra của cơ sở giáo dục. Đánh giá hiện trạng những điểm nào là điểm yếu so với các tiêu chuẩn đề ra của cơ sở giáo dục. Trên cơ sở điểm mạnh và điểm yếu phát hiện đƣợc so với các tiêu chuẩn đề ra, định ra kế hoạch phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu để phát triển. Bộ GD&ĐT đã ban hành một số lƣợng văn bản liên quan đến chất lƣợng, bảo đảm chất lƣợng, những văn bản này thể hiện sự quan tâm đến công tác kiểm định chất lƣợng và bảo đảm chất lƣợng giáo dục, chất lƣợng nhà trƣờng: Nghị quyết số 29- NQ/TW, các chiến lƣợc phát triển của cấp học; Thông tƣ quy định về điều kiện kiểm định chất lƣợng: Thông tƣ số 19/2018/TT-BGDĐT; Công văn 5942/BGDĐT-QLCL ngày 28/12/2018 về hƣớng dẫn công tác tự đánh giá chất lƣợng trong trƣờng mầm non và đánh giá ngoài.
Luật Giáo dục năm 2005 lần đầu tiên đƣa vào khái niệm “kiểm định chất lượng”; tại “Điều 17. Kiểm định chất lƣợng giáo dục” nêu rõ: “Kiểm định chất lƣợng giáo dục là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu, chƣơng trình, nội dung giáo dục đối với nhà trƣờng và cơ sở giáo dục khác. Việc kiểm định chất lƣợng giáo dục đƣợc thực hiện định kỳ trong phạm vi cả nƣớc và đối với từng cơ sở giáo dục. Kết quả kiểm định chất lƣợng giáo dục đƣợc công bố công khai để xã hội biết và giám sát.
Nhiệm vụ và quyền hạn của nhà trƣờng” cũng ghi rõ: “Tự đánh giá chất lƣợng giáo dục và chịu sự kiểm định chất lƣợng giáo dục của cơ quan có thẩm quyền kiểm định chất lƣợng giáo dục. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục năm 2009, tại Điều 1, Khoản “31. Bổ sung Mục 3a Chƣơng VII” về kiểm định chất lƣợng giáo dục gồm 3 điều (110a, 110b, 110c) lần lƣợt nêu rõ: “Nội dung quản lý nhà nƣớc về kiểm định chất lƣợng giáo dục”; “Nguyên tắc kiểm định chất lƣợng giáo dục”; “Tổ chức kiểm định chất lƣợng giáo dục” [36]. Đến Luật giáo dục số 43/2019/QH14 ngày 14/6/2019 thì Kiểm định chất lƣợng đƣợc đƣa vào Mục 3 với 3 Điều từ 110, 111, 112, cho biết các mục tiêu, nguyên tắc, đối tƣợng kiểm định chất lƣợng giáo dục; Nội dung quản lý nhà nƣớc về kiểm định chất lƣợng giáo dục; và tổ chức kiểm định chất lƣợng giáo dục.
Một số khái niệm cơ bản 1. Chất lượng, chất lượng giáo dục, chất lượng giáo dục trường mầm non. Chất lượng Chất lƣợng là một khái niệm động, nhiều chiều và có tính tƣơng đối; vì vậy có nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau, phản ánh các quan niệm cá nhân và xã hội khác nhau, và không có một định nghĩa nào duy nhất đúng về chất lƣợng.